Hiển thị các bài đăng có nhãn Machine Learning. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Machine Learning. Hiển thị tất cả bài đăng

Ước tính cỡ mẫu và Machine Learning

Xin thông báo đến các bạn rằng tôi mới tải lên kênh youtube hai bài giảng về phân tích dữ liệu. Bài thứ nhất bàn về các phương pháp ước tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu khoa học, và bài thứ hai là giới thiệu workshop về machine learning vào đầu năm 2017. Địa chỉ là:




Sau gần 2 năm vắng bóng, tôi quay lại kênh youtube này, tôi mới tự "phát hiện" mình đã upload 60 bài giảng trong thời gian qua. Cũng là một kì công đó chứ! Càng vui hơn khi biết có nhiều bạn theo dõi các bài giảng này. Có bài mà số người xem hay download lên đến hơn 20 ngàn! Theo tôi biết, loạt bài giảng này cũng gây cảm hứng cho vài bạn khác ở trong nước làm theo và như thế là tạo được một "cộng đồng" truyền bá thống kê học và phân tích dữ liệu ở qui mô lớn hơn. Chúng ta rất cần nhiều người như thế -- những người làm cái công việc mà có người mỉa mai là "vác tù và hàng tổng" -- bởi vì tất cả các lĩnh vực khoa học trong nước rất cần những kĩ năng về phân tích dữ liệu.

Thoạt đầu làm những clip này tôi không hề có ý định là bài giảng gì cả, mà chỉ muốn trước là học cách làm video cá nhân, và sau là thử nghiệm cách chia sẻ kinh nghiệm cùng các bạn và đồng nghiệp qua youtube. Nhưng dần dần thấy có hiệu quả nên tôi làm tiếp, chứ tôi cũng chẳng phải là chuyên gia gì cả. Có người còn đề nghị tôi làm tiếp, nhưng tôi không dám hứa gì cả, vì hiện nay tôi có hai ba nhiệm sở nên rất bận với chuyện "cơm áo gạo tiền". Nhưng thỉnh thoảng nhận được email của vài bạn nói rằng những bài đó đã giúp rất nhiều các bạn ấy trong học tập ở nước ngoài (có người nói là "phao"), và điều này làm tôi có động cơ làm tiếp.

1. Ước tính cỡ mẫu cho nghiên cứu

Nhân dịp quay lại với kênh youtube lần này tôi muốn giới thiệu đến các bạn một bài về ước tính cỡ mẫu cho nghiên cứu khoa học. Bài này soạn theo một bài viết trước đây (2) và cũng là một chương sách trong cuốn "Y học thực chứng" (Nhà xuất bản Y học 2014). Trong bài này tôi giải thích tại sao chúng ta phải ước tính cỡ mẫu, và mục tiêu của ước tính cỡ mẫu là gì; sau đó tôi hướng dẫn cách tính cỡ mẫu cho 4 tình huống nghiên cứu. Ở đây, tôi phải nói thêm và nhấn mạnh là phương pháp ước tính cỡ mẫu phụ thuộc vào đặc tính của nghiên cứu, chứ không có một công thức chung mà tôi hay thấy các bạn bên Việt Nam hay sử dụng.


Tôi cũng nói thêm là không có cái con số huyền thoại 30. Rất nhiều người hỏi tôi (và tôi cũng nghe phát biểu từ vài người trên báo chí) là nghiên cứu nào cũng cần phải có 30 đối tượng trở lên thì mới đáng tin cậy. Chẳng hạn như mới đây có người phê bình Vinastas về vụ nước mắm rằng phải kiểm tra 30 mẫu thì mới có tính khoa học. Trong thực tế thì hoàn toàn không có một con số nào như thế cả. Nghiên cứu có thể cần ít hơn hay nhiều hơn 30 mẫu, và mỗi mô hình nghiên cứu có một cách tính. Tôi có bàn về "con số huyền thoại" này, nhưng website bị "chết" rồi nên mất. Tuy nhiên, may mắn là có website đăng lại dưới đây (3).

2.  Giới thiệu lớp học "Machine Learning"

Bài thứ hai không phải là bài giảng, mà là bài giới thiệu về lớp học "Machine Learning" sắp tới tại ĐH Tôn Đức Thắng. Tôi có nói qua về nội dung của lớp học và học viên sẽ học được gì sau khi hoàn tất lớp học 10 ngày này. Tôi nói về hai văn hoá trong phân tích dữ liệu để các bạn thấy nét đặc thù của lớp học này. Tôi cũng giải thích tại sao "Machine Learning" không nên dịch là "Học Máy", vì chữ learning ở đây không có nghĩa là "học" mà chính là "fitting" (tức là mô hình hoá). Tưởng chỉ nói 10-15 phút, ai dè nói hơn 30 phút!


Đây là một workshop làm hao tổn sức lực của chúng tôi, vì soạn bài giảng gần như mới hoàn toàn (hơn 1000 slides), và phải chọn bài tập để học viên thực hành. Ngay cả ở nước ngoài, năm tới tôi sẽ giảng vài bài về chủ đề này, nhưng chỉ là "cưỡi ngựa xem hoa" thôi, chứ không chi tiết như ở VN.  Tôi tin rằng sau khi hoàn tất lớp học này các bạn sẽ có thêm "vũ khí" lợi hại cho công việc của mình. Các bạn sẽ có một cách suy nghĩ mới về nghiên cứu khoa học, và tôi chắc rằng sẽ làm cho nghiên cứu của các bạn phong phú hơn, hay hơn. Đối với các bạn đối phó với dữ liệu lớn (big data) thì các phương pháp machine learning sẽ giúp cho việc khai thác các dữ liệu này.

Tôi kì vọng rằng sau khi hoàn tất lớp học, các bạn sẽ thay thế tôi đi truyền đạt các phương pháp này đến các bạn khác. Chúng ta rất cần tạo ra một cộng đồng mạnh về thống kê học và machine learning ở VN, chứ không nên chỉ tập trung vào một thiểu số rất nhỏ. 

Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là khai mạc lớp học, nên các bạn nào có ý định tham dự thì ghi danh ngay từ bây giờ. Sau khi khoá sổ thì Trường không nhận thêm, và đó là chính sách. Hi vọng sẽ gặp lại các bạn trong lớp học.

====




(3) http://vienthongke.vn/thong-tin-khoa-hoc/thong-tin-khtk/209-thong-tin-khoa-hoc-thong-ke-so-5-nam-2012/1644-co-mau-huyen-thoai-con-so-30 (chú ý: website này không đáng tin cậy, vì rất chập chờn và không ổn định).

Cập nhật lớp học về "Machine Learning" tháng 1/2017

Chỉ còn khoảng 4 tuần nữa là khai mạc lớp học về "Machine Learning" (ML). Đến hôm nay thì bài giảng đã soạn xong. Có tất cả 31 bài giảng (1 bài giảng bổ sung khi có thì giờ). Hơn 1000 slides, với nhiều phương pháp và dữ liệu sẽ giúp cho các bạn rất nhiều trong tương lai. Trong cái note này tôi sẽ nói sơ qua về nội dung lớp học.



Chủ đề lớp học lần này dĩ nhiên là machine learning hay statistical learning. Nhưng cách mà tôi thiết kế nội dung bài giảng sẽ đáp ứng nhu cầu của đồng nghiệp trong nước, và do đó có lẽ khác một chút so với các lớp học ở nước ngoài. Trong lớp học 10 ngày này chúng tôi sẽ tập trung vào một số đề tài như sau:

1.  Phân tích mô tả và biểu đồ

Tôi nghĩ rằng dữ liệu nghiên cứu, nhất là dữ liệu lớn, cần phải được khai thác một cách có hệ thống. Cách đơn giản nhất nhưng hữu hiệu nhất là dùng các kĩ thuật phân tích biểu đồ. Các học viên sẽ học các biểu đồ cơ bản, sau đó dùng ggplot2 để soạn các biểu đồ chất lượng cao, biểu đồ có thể dùng cho công bố quốc tế. Ngoài ra, sẽ có một ôn tập về các phương pháp phân tích mô tả như t-test và Ki bình phương. 

2.  Mô hình (data modeling)

Sau phần phân tích mô tả, chúng tôi sẽ bắt đầu với phân tích tương quan và mô hình hồi qui tuyến tính. Học viên sẽ học cách ước tính tham số của mô hình, cách diễn giải ý nghĩa của tham số, cách mô hình các mối ảnh hưởng tương tác (interaction effects).  Học viên sẽ học về ý nghĩa của chỉ số R-square và mean square error (MSE).

Sau phần mô hình hồi qui tuyến tính, học viên sẽ học về mô hình hồi qui logistic. Các đề tài trong phần này bao gồm ước tính tham số, diễn giải ý nghĩa (nhất là odds ratio), và hiểu các chỉ số liên quan đến mô hình hồi qui logistic như Brier score, likelihood ratio, pseudo R-square, AUC, v.v. Qua bài học này, có lẽ nhiều bạn sẽ thấy những gì mình làm trong quá khứ là ... sai.

3.  Cách chọn mô hình (và biến số) tối ưu

Một trong những vấn đề làm nhiều nhà nghiên cứu "nhức đầu" là trong số hàng trăm, thậm chí hàng trăm ngàn, biến tiên lượng (predictor variables), thì biến nào có liên quan đến outcome. Những phương pháp được dạy trong đại học (như stepwise) mà rất nhiều bạn đã học thật ra là sai. Trong lớp học này, học viên sẽ làm quen với những phương pháp hiện đại như Bayes, LASSO, cross-validation, random forest, v.v.  Các phương pháp này cũng rất hữu hiệu cho các nghiên cứu với dữ liệu lớn, với số biến tiên lượng lên đến hàng ngàn, có khi nửa triệu, so với số đối tượng chỉ vài chục người.

4.  Xây dựng mô hình tiên lượng

Mô hình hồi qui (tuyến tính và logistic) có thể sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa biến tiên lượng và biến outcome. Nhưng các mô hình này cũng có thể sử dụng cho tiên lượng (prediction) tương lai. Học viên sẽ học phương pháp xây dựng mô hình tiên lượng, bao gồm bootstrap, cross-validation, k-fold validation, v.v.

5.  Mô hình tiên lượng "hiện đại"

Các mô hình hồi qui logistic và phân định tuyến tính (linear discriminant) có thể sử dụng để xây dựng mô hình cho các mối liên quan tuyến tính và tương đối "sạch". Nhưng đối với các mối liên hệ phi tuyến tính (non-linear) hay rất phức tạp, thì các mô hình "truyền thống" có thể sẽ thất bại. Đối với các vấn đề phức tạp này, học viên sẽ học các phương pháp "hiện đại" như K nearest neighbours (KNN), random forest, support vector machines,   neural network, v.v.  để xây dựng mô hình tiên lượng.

6.  Mô hình phân loại 

Các mô hình trên (linear regression, logistic regression, KNN, v.v.) dùng để mô hình mối liên quan giữa nhiều biến tiên lượng và biến outcome. Nhưng trong thực tế, chúng ta KHÔNG có biến outcome, mà chỉ có hàng loạt biến số. Các biến số này có thể phản ảnh những đặc điểm mà chúng ta không quan sát hay đo lường được (gọi là latent trait). Học viên sẽ học các phương pháp phân tích đa biến như principal component analysis, cluster analysis (rất phổ biến trong di truyền học). Trong ngôn ngữ machine learning, đó là những phương pháp có tên là "unsupervised learning."

7.  Xử lí số liệu trống (missing values)

Nghiên cứu khoa học thường có dữ liệu trống vì chúng ta không đo lường được hay thí nghiệm thất bại. Người không có kinh nghiệm thường loại bỏ các số liệu này, và đó là điều đáng tiếc. Trong lớp học này, học viên sẽ học phương pháp xử lí số liệu trống bằng các mô hình đa biến. Các mô hình này rất hiệu quả và giúp cho dữ liệu hoàn chỉnh hơn.

Ngoài ra, các học viên sẽ có cơ hội thực hành các phương pháp trên với những dữ liệu nghiên cứu thật. Lần này, chúng tôi tăng cường thêm một trợ giảng để hướng dẫn học viên thực hành.

Như vậy, trong lớp học này học viên sẽ học hàng loạt phương pháp mà có lẽ ít khi nào hay chưa được giới thiệu trước đây trong đại học. Ngay cả ở nước ngoài, các phương pháp trong lớp học này cũng rất mới và rất ít người am hiểu. Do đó, học viên sẽ được tiếp cận những phương pháp và kĩ năng mới trong nghiên cứu khoa học với dữ liệu lớn. Tôi kì vọng khi hoàn tất lớp học, các học viên sẽ là những người giới thiệu các phương pháp hiện đại cho các bạn không có dịp tham gia lớp học. Cũng có thể xem lớp học là một cách chuyển giao công nghệ vậy.


Danh sách bài giảng:

1.          Giới thiệu chương trình học và "machine learning"
2.          Giới thiệu ngôn ngữ R 
3.          Cú pháp, input và output 
4.          Phân tích mô tả với R 
5.          Xây dựng biểu đồ dùng R: biểu đồ cơ bản 
6.          Xây dựng biểu đồ dùng R: biểu đồ chất lượng cao
7.          Phân tích mô tả
8.          Phân tích tương quan
9.          Mô hình hồi qui tuyến tính đơn biến 
10.       Diễn giải mô hình hồi qui tuyến tính
11.       Phân tích dao động dư (residual analysis) 
12.       Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến 
13.       Mô hình hồi qui tuyến tính với biến phân loại và tương tác
14.       Vấn đề đa cộng tuyến

Các phương pháp "supervised" machine learning
15.       Phương pháp chọn biến số trong mô hình hồi qui tuyến tính
16.       Mô hình hồi qui logistic đơn biến 
17.       Mô hình hồi qui logistic đa biến 
18.       Phương pháp chọn biến số trong mô hình hồi qui logistic 
19.       Đánh giá mô hình hồi qui logistic
20.       Các mô hình chính trong machine learning
21.       Giới thiệu package "caret" cho machine learning
22.       Phương pháp bootstrap và ứng dụng 
23.       Phương pháp K nearest neighbours (KNN)
24.       Phương pháp random forest
25.       Phương pháp support vector regression 
26.       Phương pháp neural network
27.       Phân tích phân định (Linear discriminant analysis)

Các phương pháp "unsupervised" machine learning
28.       Phân tích thành tố (principal component analysis)
29.       Phân tích cụm (cluster analysis)
30.       Phương pháp xử lí dữ liệu trống (missing values)
31.       Phương pháp ước tính cỡ mẫu

Ngày khoá sổ ghi danh sắp tới. Các bạn có ý định tham dự lớp học nên đăng kí với Trường ĐH TĐT càng sớm càng tốt. Sau ngày hết hạn, ban tổ chức sẽ không nhận thêm học viên. 
Liên lạc ThS. Nguyễn Hoàng Nam, 
Điện thoại: (08) 37755 037,  

Machine Learning là gì?

Mấy hôm nay có vài bạn viết email hỏi tôi machine learning (ML) là gì và có cần học thêm không? Tôi nghĩ câu trả lời cho câu thứ hai là "Yes" – lúc nào cũng cần phải học thêm. Hôm kia, nhân đọc một bản tin cho biết con rể ông Trump (Jared Kushner) đã sử dụng ML để giúp cho nhạc phụ đắc cử, tôi có cảm hứng viết thêm một chút về ML ...



Hai chữ "Machine Learning" được đề cập rất nhiều trong các diễn đàn khoa học. Mấy tháng gần đây trong các tập san y khoa, kể cả chuyên ngành loãng xương, có đi nhiều bài về nguyên lí và ứng dụng của ML trong nghiên cứu lâm sàng. Tôi mới duyệt một bài cho CTI. Trong di truyền học, nhiều bài báo về ứng dụng ML được công bố với nhiều kết quả rất triển vọng, và chính nhóm chúng tôi cũng đã có ứng dụng thành công. Như là một trào lưu mới, ML đã gây được tiếng vang trong khoa học, và do đó chúng ta cần phải tìm hiểu và phải học để có một cách suy nghĩ mới, một cái nhìn mới cho vấn đề mà chúng ta quan tâm.

Nhưng thú thật, đọc qua những bài đó mà nếu không có kiến thức về thống kê học thì rất khó hiểu. Khó hiểu vì những thuật ngữ mới, và nhất là cách viết của các tác giả giả định rằng người đọc đã có kiến thức cơ bản. Do đó, người mới vào nghề hay người đang tìm hiểu về ML sẽ cảm thấy lẫn lộn giữa những thuật ngữ như statistical learning và machine learning, neural network, supervised và unsupervised learning, random forest, kNN cross-validation, v.v. vốn là "ngôn ngữ" của giới khoa học máy tính. Do đó, trong cái note này tôi muốn giải thích theo cách hiểu của tôi về ML và hi vọng các bạn sẽ hiểu rõ hơn về ML.

1. Machine Learning là gì?

Có người ta dịch Machine Learning là "Học Máy", nhưng tôi thì nghĩ dịch đúng hơn là "Mô hình hoá bằng máy". Lí do là ở ý nghĩa của chữ "learning", không hẳn có nghĩa đen là 'học', mà là mô hình hoá. Tại sao learning? Thực chất của ML là tìm mô hình thích hợp từ dữ liệu mẫu (sample data), và dùng cái mô hình đó để tiên lượng cho quần thể (population) hay các mẫu dữ liệu khác.

Quá trình "learning" gồm 2 bước: bước 1 là xây dựng hệ thống phụ thuộc giữa các biến số (dependencies); và bước 2 là dùng hệ phụ thuộc để tiên lượng cho quần thể. Ở đây, cái gọi là "hệ thống phụ thuộc" chính là mô hình hoá dữ liệu, tức là "data modelization". Nói cách khác nữa, cái gọi là "learning" trong ML chính là "fitting" trong thống kê học. Hiểu đúng như thế thì chúng ta dễ dàng thấy Machine Learning thực chất là "mô hình hoá bằng máy tính."

Có hai phương pháp mô hình hoá: có giám sát (supervised learning) và không có giám sát (unsupervised learning). Mô hình hoá có giám sát bao gồm các mô hình như hồi qui tuyến tính, linear classification, logistic regression, Cox's regression. Mô hình hoá không giám sát bao gồm phân tích cụm (cluster analysis) và phân tích đa biến như PCA và factor analysis.

Để đánh giá "accuracy", cái "bí quyết" của ML là huấn luyện (training) và kiểm định (testing). Nói cách khác, ML chia một dataset ra thành hai nhóm: nhóm huấn luyện để mô hình hoá dữ liệu, và sau khi mô hình xong thì áp dụng cho nhóm thử nghiệm. Qui trình này lặp đi lặp lại rất nhiều lần theo nguyên lí bootstrap mà ai học thống kê học cũng biết qua. Thật ra, ai học về mô hình trong thống kê học đều biết đến training và testing, nên cách làm này không có gì mới.

Thật vậy, nhiều khái niệm của ML không có gì khác với thống kê học; nếu khác thì chỉ là cách gọi. Chẳng hạn như ML gọi là target, thì thống kê học gọi là outcome hay response; bias của ML chính là intercepttrong thống kê; weight trong ML là beta coefficienttrong thống kê; loss function trong ML là residual trong thống kê; feature selection trong ML thì chính là variableselection trong thống kê; vân vân. Hiểu như thế thì chúng ta thấy rằng ML cũng có thể xem là một cách gọi khác của thống kê học hiện đại.

2. Machine learning và statistical learning (SL)

Có gì khác biệt giữa ML và SL? Thú thật, cá nhân tôi không thấy khác biệt gì lớn giữa hai thuật ngữ này. Trước đây, tôi đọc cuốn Statistical Learning của Trevor Hastie, Rob Tibshirani và Jerome Friedman, rồi sau này đọc qua vài cuốn sách về ML thì thấy rất giống nhau. Có lẽ "thần dân" thống kê học thì gọi là Statistical Learning, còn dân khoa học máy tính thì gọi là Machine Learning.

Nhưng có một chút khác biệt giữa ML và khoa học thống kê. Nhiều người nghĩ là không, nhưng tôi nghĩ là có. Các mô hình thống kê chính là cơ chế của ML. Thống kê học đặt nặng vấn đề giả định (assumptions) trong việc xây dựng mô hình, nhưng ML thì đặt nặng độ chính xác của mô hình. Chẳng hạn như để xây dựng mô hình tiên lượng hồi qui tuyến tính, thống kê học rất quan tâm đến các giả định như phân bố chuẩn, đồng dạng phương sai, và tính độc lập giữa các giá trị. Nhưng ML quan tâm nhiều đến việc huấn luyện mô hình của sao cho mô hình đó có thể tiên lượng chính xác khi áp dụng cho một quần thể khác. Nói như thế không có nghĩa là thống kê học không quan tâm đến độ chính xác của mô hình, mà chỉ muốn nói về ưu tiên của hai cách tiếp cận về mô hình tiên lượng.

Ngoài ra, thống kê học quan tâm đến mô hình để đánh giá tầm quan trọng của yếu tố tiên lượng (qua các kiểm định thống kê), còn ML thì không quan tâm đến ý nghĩa thống kê của các yếu tố trong mô hình. Đối với ML, một yếu tố có thể không có ý nghĩa thống kê nhưng có thể là một yếu tố tiên lượng tốt. Như vậy, thống kê học và ML khác biệt chủ yếu ở yếu tố "văn hoá": một bên là quan tâm đến association (liên quan) và một bên là prediction (tiên lượng).

3. Phân biệt giữa association và prediction

Trong nhiều nghiên cứu khoa học, mục tiêu là giải thích mối liên quan giữa các yếu tố. "Yếu tố" ở đây có thể là gen, là bệnh lí, hay nói theo ngôn ngữ thống kê là biến độc lập (X) và biến phục thuộc ( Y ), hay nói theo ngôn ngữ dịch tễ học là yếu tố nguy cơ và outcome.

Để giải thích mối liên quan giữa bệnh lí ( Y ) và yếu tố nguy cơ (X), chúng ta cần phải phát biểu một giả thuyết khoa học. Giả thuyết là một phát biểu mang tiếng tiên lượng về mối liên quan giữa Y và X. Từ giả thuyết khoa học, chúng ta triển khai thành giả thuyết thống kê. Từ giả thuyết thống kê, chúng ta triển khai thành mô hình thống kê. Đã nói là "mô hình" thì phải có hàm số, và ở đây là tìm hàm số của X để giải thích mối liên quan giữa Y và X. Hàm số có thể là tuyến tính (ví dụ như mô hình hồi qui tuyến tính) hay phi tuyến tính. Sau đó, chúng ta dùng dữ liệu thu thập từ thí nghiệm để ước tính tham số của mô hình thống kê. Qua ước tính tham số và kiểm định thống kê (test of significance), chúng ta có thể biết X có liên quan với Y hay không, và mức độ liên quan cao thấp ra sao. Như vậy, toàn bộ qui trình nghiên cứu, từ phát biểu giả thuyết đến kiểm định thống kê, là một quá trình đi tìm mối liên quan, hay nói theo thuật ngữ dịch tễ học lâm sàng là đi tìm association (hoặc có khi đề cập đến là relationship).

Với ML, chúng ta có thể đi một bước xa hơn association. Bước đó là prediction – tiên lượng (hay dự báo). Với ML, chúng ta có thể tiên lượng biến cố xảy ra trong tương lai. Phân tích association cho phép chúng ta phát biểu chung về mối liên quan giữa X và Y. Phân tích prediction cho phép chúng ta tiên lượng giá trị của Y cho mỗi cá thể (individual) nếu chúng ta biết giá trị của X của cá thể đó.

Nhưng tiên lượng tương lai có thể đúng, có thể sai. Do đó, ML có hẳn một loạt "thủ thuật" để đánh giá khả năng tiên lượng của một mô hình thống kê. Đối với biến liên tục, cách đánh giá mô hình của ML bao gồm những thủ thuật có tên khó hiểu là "loss function", nhưng trong thực tế đó là phân tích dao động dư (residual analysis) mà ai học thống kê cũng đều biết. Đối với biến outcome là biến phân nhóm (như có hay không có bệnh), ML tính các chỉ số gọi la "accuracy" trong cái gọi là "confusion matrix", mà người làm dịch tễ học ai cũng biết đó chính là độ nhậy (sensitivity) và độ đặc hiệu (specificity). Cũng như dịch tễ học, ML cũng dùng AUC để đánh giá mô hình tiên lượng. Nhưng ML chưa/không quan tâm đến calibration và reclassification trong việc đánh giá mô hình tiên lượng.

Nhưng ML có những đóng góp quan trọng trong việc kiểm định mô hình tiên lượng. Trước đây, thống kê học chỉ dừng ở những phương pháp như testing / validation hay bootstrap, nhưng ML cung cấp cho chúng ta hàng loạt phương pháp rất hấp dẫn và cực kì có ích cho việc phân tích dữ liệu lớn. Những phương pháp đó bao gồm random forest, neural network, k-nearest neighbours, partial least squares, boosted generalized additive model, support vector machine (thực chất là hồi qui tuyến tính mở rộng), classification, v.v. Trong thực tế, những phương pháp này cũng xuất phát hoặc xây dựng trên lí thuyết thống kê, nhưng có giao thoa với khoa học máy tính.

Những phương pháp trên rất có ích trong thời đại dữ liệu lớn. Ngày xưa, giới khoa học thường làm nghiên cứu ở qui mô tương đối mà theo đó số biến độc lập (independent variables) ít hơn số cỡ mẫu. Nhưng ngày nay, nhiều nghiên cứu mà số biến độc lập cao gấp ngàn lần số cỡ mẫu. Chẳng hạn như trong nghiên cứu gồm 100 bệnh nhân và 100 người không bệnh, mỗi cá nhân được phân tích khoảng 500,000 biến thể gen. Đây là vấn đề được gọi tắt là p >> n hay "curse of dimensionality". Trong các nghiên cứu này (ngày càng phổ biến), các phương pháp thống kê cổ điển không còn thích hợp nữa, và các phương pháp ML cung cấp cho chúng ta một số giải pháp rất hấp dẫn.

Do đó, chúng tôi muốn thử nghiệm một cách giảng mới về ML mà có lẽ chưa ai làm trước đây. Trong lớp học sắp tới ở TDT, chúng tôi sẽ giới thiệu một loạt mô hình tiên lượng như hồi qui tuyến tính, phi tuyến tính, logistic, Cox's. Mỗi mô hình, sẽ có hai phần: phần đầu là ước tính tham số và diễn giải ý nghĩa của các tham số (tức là phần association); phần hai là dùng cách tiếp cận của ML để tiên lượng (tức là prediction). Tôi nghĩ cách tiếp cận này sẽ giúp ích cho các bạn làm quen và hiểu cách ứng dụng các mô hình thống kê cho association và prediction, và qua đó giúp các bạn có cách suy nghĩ mới trong nghiên cứu khoa học.

Chương trình học tháng 1/2017:

1. Giới thiệu chương trình học 
2. Giới thiệu ngôn ngữ R 
3. Cú pháp, input và output 
4. Phân tích mô tả với R 
5. Xây dựng biểu đồ dùng R: cơ bản 
6. Xây dựng biểu đồ dùng R: ggplot2 
7. Mô hình hồi qui tuyến tính đơn biến 
8. Phân tích dao động dư (residual analysis) 
9. Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến 
10. Mô hình hồi qui tuyến tính với biến phân loại và tương tác
11. Hồi qui đa thức 
12. Hồi qui tuyến tính: PLS, Ridge, GLASSO

Supervised learning: 
13. Giới thiệu các phương pháp machine learning: training vs testing
14. Random forest 
15. Support vector machine 
16. kNN 
17. Mô hình hồi qui logistic đơn biến 
18. Mô hình hồi qui logistic đa biến 
19. Các phương pháp chọn mô hình tối ưu (model selection) 
20. Đánh giá mô hình: discrimination
21. Đánh giá mô hình: calibration
22. Đánh giá mô hình: reclassification 
23. ML cho mô hình hồi qui logistic: random forest, prediction

Unsupervised learning 
24. Cluster analysis 1: khái niệm 
25. Cluster analysis 2: mô hình và kĩ thuật 
26. Dimensionality reduction
27. Mô hình thành tố (Principal component model) 
28. Mô hình Cox's 
29. Ước tính cỡ mẫu

Đăng kí và liên lạc
·                Học viên sẽ đăng kí từ ngày ra thông báo đến hết ngày 23/12/2016.
·                Lệ phí khóa học: 4 triệu đồng/học viên (bao gồm sách, tài liệu giảng dạy, và teabreak trong suốt 10 ngày học). Đối với học viên ghi danh lớp cơ bản (5 ngày đầu), chi phí là 2 triệu đồng/học viên. Nghiên cứu sinh sẽ được giảm 50% học phí.
·                Mọi thông tin vui lòng liên hệ: Phòng quản lý phát triển khoa học và công nghệ (ThS. Nguyễn Hoàng Nam), Phòng A303, số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, P. Tân Phong, Q.7, TP. HCM.
·                Điện thoại: (08) 37755 037. Emailnguyenhoangnam@tdt.edu.vn


Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.