Hiển thị các bài đăng có nhãn kĩ năng mềm khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kĩ năng mềm khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Viết văn khoa học như nấu canh chua: nguyên tắc IDEA

Có lẽ vài bạn sẽ nhăn mặt không đồng ý với cách ví von giữa nấu canh chua và khoa học, nhưng tôi thì thấy bản chất của hai việc này rất giống nhau. Nấu canh là cả một nghệ thuật, và viết văn khoa học cũng thế. Tiếp theo cái note trước, trong cái note này tôi sẽ mách cho các bạn vài mẹo viết phần dẫn nhập sao cho thuyết phục.



Độ 10 năm trước, trong một hội thảo & workshop do Bộ GDĐT tổ chức ngoài Hà Nội, và tôi có nói rằng viết văn khoa học như là nấu canh. Bà giáo sư người Úc, chắc ai đó dịch cho bà nghe, đến chỗ tôi và nói là bà rất thích cái ý ngộ nghĩnh đó. Tôi thì thấy chẳng có gì là lạ lùng cả, vì nếu quan sát kĩ các công đoạn trong nấu canh chua, chúng ta sẽ thấy qui trình đó rất giống với viết văn nói chung. Trong phần dưới đây tôi sẽ giải thích tại sao hai việc làm này giống nhau, và chúng ta có thể học gì từ người thợ nấu canh chua.


1. Viết văn như nấu canh chua

Nấu canh chua là một khoa học và cũng là một nghệ thuật. Để nấu một nồi canh chua người thợ nấu phải có một kế hoạch hoàn chỉnh, với những công đoạn theo trình tự có sẵn, gần như lưu truyền từ đời này sang đời khác. Khởi đầu là phải xác định nồi canh cho mấy người ăn, họ là ai, hay nói theo ngôn ngữ đời nay là nghĩ đến "đối tượng". Sau đối tượng là nguyên liệu. Người thợ nấu phải chọn nguyên liệu có phẩm chất tốt, từ con cá, cà chua, bạc hà, giá, khóm, đến rau thơm. Người nấu còn phải nghĩ đến loại nguyên liệu gây chua (me hay gì đó), nước soup loại gì để "đi chung" với những nguyên liệu đó. Sau cùng là khi dọn ra, tô canh chua phải có thêm chút mỡ tỏi chiên để cho có cái vị. Nhất định phải có vài miếng ớt màu đỏ. Trong quá trình chế biến, người thợ phải liên tục nêm nếm, thêm cái này, bớt cái kia, cho đến khi nồi canh hoàn hảo. Kết quả là một tô canh chua, đủ màu sắc (xanh, đỏ, trắng, vàng), hoà quyện giữa âm và dương, cộng thêm nước mắm trong nữa, thì thực khách có một món ăn không chỉ độc đáo mà còn lành mạnh.

Viết văn khoa học cũng giống như nấu canh. Trước hết, người viết cần phải xác định mình viết cho ai đọc, người trong ngành hay người ngoài ngành, viết cho tập san trong "bộ lạc" hay tập san "biển lớn". Xác định đối tượng giúp người viết chọn cách hành văn và chọn thuật ngữ sao cho phù hợp. Chẳng hạn như viết cho người trong ngành, cùng "bộ lạc" (ví dụ như viết cho người trong ngành tim mạch), thì có lẽ người viết không cần phải giải thích những khái niệm cơ bản, không cần phải nói tầm quan trọng của bệnh lí ra sao, vì nói như thế rất dễ bị hiểu lầm là lên lớp. Nhưng nếu viết cho người ngoài ngành, thì có thể cần cung cấp một định nghĩa ngắn về bệnh lí, và nói tầm quan trọng của bệnh ra sao. Do đó, xác định độc giả cũng giống như xác định thực khách của nồi canh chua.

2. Lên kịch bản

Sau khi xác định đối tượng là dàn bài. Đây là bước quan trọng, vì bước này quyết định cái khung của bài báo. Dàn bài ở đây hiểu theo nghĩa là lên kịch bản cho bài báo hay một phần của bài báo. Điều rất quan trọng là dàn bài phải nhắm đến mục tiêu của nghiên cứu. Chẳng hạn như mục tiêu nghiên cứu là xây dựng hồ sơ gen (genetic profiling) để tiên lượng loãng xương, tác giả phải nghĩ cách lên kịch bản trong phần dẫn nhập sao cho cuối cùng độc giả thấy mục tiêu xây dựng hồ sơ gen là cần thiết. Để chỉ ra mục tiêu là cần thiết, tác giả phải nói cho độc giả biết tầm quan trọng của vấn đề, những nghiên cứu trong quá khứ về vấn đề ra sao, khoảng trống tri thức là gì, và sau cùng là mục tiêu. Có lẽ tác giả nghĩ đến một kịch bản như sau:

·       Loãng xương là bệnh quan trọng vì nhiều người mắc;

·       Nhưng vì bệnh lí diễn ra một cách âm thầm, nên cần phải nhận dạng người có nguy cơ cao (trước khi quá muộn); 

·       Mà nguy cơ của bệnh thì chịu nhiều tác động, từ yếu tố lâm sàng đến di truyền; 

·       Đã có nhiều nghiên cứu về di truyền và đã phát hiện nhiều gen, nhưng ảnh hưởng của mỗi gen còn thấp. Có cách nào hay hơn để sử dụng thông tin gen cho tiên lượng bệnh? (Ở đây tác giả phải đang nghĩ đến khoảng trống tri thức). 

·       Ah, có vài cách sử dụng gen, và một trong những cách đó là xây dựng hồ sơ gen, tổng hợp thông tin từ nhiều gen và tạo ra "chữ kí gen" cho mỗi cá nhân. Giả thuyết là chữ kí này sẽ giúp tiên lượng bệnh tốt hơn. Sau đó là phát biểu mục tiêu của nghiên cứu.

Chú ý là các ý tưởng trên được dàn xếp theo logic đường thẳng, từ A --> B, B -->, v.v. Như vậy, sau khi lên kịch bản như thế (có lẽ trên bàn cà phê!) phần dẫn nhập có lẽ sẽ có 5 đoạn văn, vì mỗi đoạn văn chỉ nói lên 1 ý tưởng.

3. Tìm chất liệu và viết

Bước kế tiếp là tìm chất liệu (tức là data -- dữ liệu) cho mỗi ý hay mỗi đoạn văn. Chẳng hạn như trong đoạn văn đầu về tầm quan trọng của bệnh, tác giả cần phải nghĩ mình viết gì để nói lên cái ý đó. Người có kinh nghiệm có thể sẽ viết về qui mô của bệnh trong cộng đồng; về ảnh hưởng của bệnh đến tử vong hay các biến chứng; về chi phí điều trị và do đó gánh nặng kinh tế cho cá nhân; về chất lượng cuộc sống. Sau khi đã biết mình viết gì, tác giả phải tìm trong y văn các dữ liệu cần thiết để nói lên các điểm vừa kể. Giả dụ như sau khi đã có dữ liệu, tác giả phải nghĩ đến cách viết. Cách viết một đoạn văn như chúng ta đã bàn là gồm 3 phần: câu văn chủ đề, các câu văn yểm trợ, và câu văn nhấn mạnh. Câu văn chủ đề có lẽ là:

"Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death."

Câu văn này mở màn cho các câu văn sau. Vì câu mở đầu nói đến prevalence và tử vong, nên các câu sau phải "yểm trợ" cho hai khía cạnh đó. Có lẽ các câu tiếp theo là:

"Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold."

Chú ý những (X) là tài liệu tham khảo. Nếu có thêm dữ liệu thì viết nữa để cung cấp cho độc giả những thông tin liên quan. Nếu không thì có thể kết thúc đoạn văn với câu kết. Thật ra, đây là câu khó viết, vì viết không khéo sẽ lặp lại ý chính của câu văn chủ đề. Suy nghĩ xem phải nhấn mạnh điều gì ... Có lẽ nên nhấn mạnh đến tương lai khi tình trạng lão hoá gia tăng thì qui mô và tác động của bệnh cũng tăng. Quyết định như thế, tác giả có thể viết:

"Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future."

Tổng kết lại, tác giả có một đoạn văn mở đầu

"Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold. Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future."

4. "Nêm nếm" (chỉnh sửa)

Cứ mỗi lần viết xong một đoạn văn, tác giả cần phải đọc lại và đọc lại và đọc lại. Qui trình này cũng giống như người thợ nấu sau khi đã cho nguyên liệu vào nồi canh, họ phải liên tục nêm nếm, thêm đường, bớt muối, thêm nước, v.v. cho đến khi nồi canh đậm đà. Viết văn khoa học cũng y như thế, sau khi viết xong một đoạn văn, tác giả cần phải đọc lại nhiều lần và chỉnh sửa. Có 5 câu hỏi tác giả cần phải tự đặt ra là:

·       các câu văn đã nói lên cái ý chưa? 
·       có câu hay chữ nào thừa? 
·       có chữ nào khó hiểu không? 
·       có câu nào cấu trúc sai văn phạm không? 
·       cái tone của các câu văn có ổn chưa?

Chẳng hạn như câu "Osteoporosis is recognized as a public health burden, because the prevalence of the disease is high in the general population, and it is associated with an increased risk of death" có dài quá chăng? Có nên tách nó thành hai câu riêng? Chữ "recognized" có ổn chưa? Ai recognized? Có lẽ nên dùng chữ khác, active hơn. Chúng ta thử làm tác giả tách ra hai câu riêng:

"Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality."

Có lẽ hai câu này rõ ràng hơn và dễ hiểu hơn. Chữ "clinical consequence" mở cửa cho tác giả viết thêm về tác động lâm sàng của bệnh trong các câu văn sau. Vậy thì đoạn văn cần phải viết lại như sau:

"Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). Moreover, osteoporotic patients are associated with comorbidities such as osteoarthritis, sarcopenia, and diabetes. Patients with osteoporosis have a higher risk of sustaining a fracture. More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). For instance, a large scale study in the United States found that the risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold. Given that the population aging has taken place in many parts of the world, it is expected that the burden and impact of osteoporosis is likely to increase in the future."

Có thể đọc lại lần nữa để tìm xem 5 yếu tố trên đã ổn chưa. Chẳng hạn như chữ "For instance" có lẽ thừa, và nên bỏ. Thậm chí những chữ "a large scale study in the United States found that" cũng không cần thiết. Hay như câu "Given that the population aging has taken place in many parts of the world" có thể viết lại cho gọn hơn như "Because the population aging has taken place worldwide" (gọn hơn, vì bỏ được 6 chữ "in many parts of the world"). Câu "the burden and impact of osteoporosis is" sai văn phạm. OK, vậy đoạn văn bây giờ là:

"Osteoporosis is increasingly becoming an important public health problem. The importance of the disease is characterized by its high prevalence and serious clinical consequences, including mortality. Among Caucasian individuals aged 50 years and older, approximately one third of women and one tenth of men have osteoporosis (X). Emerging evidence suggests that the prevalence of osteoporosis appears to increase with time (X), particularly in Asian populations (X). Moreover, osteoporotic patients are associated with comorbidities such as osteoarthritis, sarcopenia, and diabetes. Patients with osteoporosis have a higher risk of sustaining a fracture. More importantly, osteoporosis is associated with reduced life expectancy (X), and the reduction is more pronounced in men than in women (X). The risk of mortality among men with osteoporosis was increased by 3-fold compared with the background population of the same age; however, the increased risk in women was 1.8-fold (X). Because the population aging has taken place worldwide, it is expected that the burden and impact of osteoporosis are likely to increase in the future."

Nhưng câu cuối có cái tone không mấy đẹp. Có thể viết lại như sau: "Because the population aging has taken place worldwide, it is expected that osteoporisis is likely to impose a greater burden and impact on the society."

Có lẽ đoạn văn như thế là tạm ổn. Cứ để đó, tác giả nên viết tiếp đoạn thứ hai, và cái chu kì "nêm nếm" lại bắt đầu cho đến khi đoạn văn hoàn tất. Sau khi viết xong đoạn văn số 5, cũng cần phải đọc lại toàn bộ phần dẫn nhập để xem các đoạn văn đã ăn khớp với nhau và nói lên một "câu chuyện". (Thật ra, đoạn văn trên vẫn cón 1 chỗ chưa hay, và sai văn phạm 1 chỗ, nhưng tôi để cho các bạn phát hiện).

5. Nguyên tắc IDEA

Đọc đến đây các bạn thấy viết văn đúng như là một cách nấu nồi canh chua. Để nấu nồi canh chua, người thợ nấu dĩ nhiên phải có ý tưởng, chất liệu, kĩ năng, nhưng cũng phải có cái nghệ thuật. Nghệ thuật thử nếm, rất khó cân đo đong đếm, vì nó mang tính chủ quan. Viết văn khoa học cũng vậy, cũng có tính chủ quan (văn là người), nhưng nói chung viết văn đòi hỏi người viết phải:

(a) có ý tưởng (idea), biết mình viết cái gì, đạt mục tiêu gì; 

(b) có sẵn dữ liệu (data), tức là phải đọc các nghiên cứu trước, đọc rất nhiều; 

(c) có kĩ năng tiếng Anh, tức là cách chọn chữ, cấu trúc câu văn; và 

(d) phải có một chút nghệ thuật (art), tức phải tập khiếu thẩm mĩ trong văn chương.

Tôi đặt tên cho nguyên tắc trên là IDEA: Idea + Data + English +Art. Trong 4 nguyên tắc trên, tôi nghĩ đọc là quan trọng nhất. Đọc trước hết là để thu thập dữ liệu, nhưng sau đó là học cách người trước mình viết và diễn giải ra sao. Không có gì hiệu quả hơn là học từ thực tế. Có thể nói không ngoa rằng sự nghiệp học tập của một sinh viên hay nghiên cứu sinh là ... đọc. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà ngày xưa người ta gọi đi học đại học là "read" (chẳng hạn như câu "She read biology at the University of Cambridge").

Viết văn là một nghệ thuật, nhưng viết văn khoa học lại là một khoa học. Bởi vậy một học giả lừng danh từng nói rằng viết là suy nghĩ trên trang giấy -- writing is thinking on paper (còn ngày nay thì viết có nghĩa là suy nghĩ trên ... màn hình). Suy nghĩ mù mờ, hời hợt, thì văn cũng như thế; suy nghĩ rõ ràng và logic sẽ phản ảnh qua cấu trúc một bài báo.

Bài báo khoa học: qui tắc viết một đoạn văn

Hôm kia, có dịp ngồi nói chuyện với một em nghiên cứu sinh, em than rằng viết văn khoa học khó quá. Hôm nay, nhân dịp đọc một đề cương nghiên cứu của một đồng nghiệp Úc (bên này đang mùa ... viết grant) cũng phát hiện những sai lầm kinh điển trong cách viết. Thế mới biết không phải chỉ người mình mới cảm thấy viết văn là khó, ngay cả người Úc cấp giáo sư mà viết văn khoa học vẫn lôm côm như thường. Thế là tôi có cảm hứng để viết thêm về chủ đề này.



Có những qui tắc viết văn nghị luận, kể cả văn khoa học, mà chúng ta hay quên hoặc không để ý. Một trong những qui tắc đó là cấu trúc một đoạn văn (paragraph). Một đoạn văn nếu cấu trúc tốt sẽ làm cho người đọc dễ lãnh hội cái ý chính của người viết, nhưng nếu cấu trúc không tốt có thể sẽ đến tình trạng lẫn lộn ở người đọc. Tôi rút ra từ những sai sót trong quá khứ, và đi đến 3 qui tắc chính như sau:

Qui tắc 1: Mỗi đoạn văn chỉ nói lên 1 ý tưởng. Ý tưởng phải được tóm tắt trong câu văn đầu tiên. Điều tối kị là một đoạn văn có quá nhiều ý, vì cấu trúc như thế dễ làm cho người đọc cảm thấy lẫn lộn, không rõ tác giả muốn nói lên điều gì.

Qui tắc 2: Mỗi đoạn văn được khởi đầu bằng một câu văn chủ đề(topic sentence), kế tiếp là vài câu văn mang tính yểm trợ cho chủ đề, và kết thúc bằng một câu văn kết luận. Một cách lí tưởng, logic của nội dung các câu văn nếu được nên theo cấu trúc đường thẳng, theo mô hình A → B, B → C, C → D.

Qui tắc 3: Mỗi đoạn văn cần có ít nhất 3 câu văn. Thông thường, một đoạn văn nghị luận mà chỉ có 2 câu văn được xem là quá ngắn, và tạo ấn tượng không tốt ở người đọc. Ngược lại, một đoạn văn quá dài (như chiếm gần nửa trang giấy) cũng được xem là không tốt, vì giảm khả năng lãnh hội ở người đọc.

Ấy vậy mà trong thực tế có rất nhiều người không chú ý đến cấu trúc của một đoạn văn. Để minh hoạ cho vấn đề đang bàn, chúng ta thử đọc qua đoạn văn dưới đây trong một bài báo khoa học viết về các yếu tố có liên quan đến rối loạn lipid máu:

"Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rối loạn lipid máu là một yếu tố quan trọng gây xơ vữa động mạch. Có sự liên hệ chặt chẽ giữa nguy cơ bệnh mạch vành với rối loạn lipid máu. Giảm rối loạn lipid máu làm giảm nguy cơ mắc bệnh mạnh vành. Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu khá cao ở bệnh nhân tăng huyết áp (THA) là 86,3%, ở trẻ em thừa cân và béo phì là 80%], ở phụ nữ mãn kinh kèm tăng huyết áp 96,43%. Ở ... tỷ lệ rối loạn lipid máu khá cao, ở người trưởng thành là 35,08% [4]; điều tra năm 2008 ở cán bộ thành phố ... rối loạn lipid máu là 38,04%. Để dự phòng bệnh mạch vành và các bệnh có nguyên nhân xơ vữa khác cần quản lý và dự phòng rối loạn lipid máu. Để tiến hành công tác dự phòng cần xác định được những yếu tố nguy cơ đó, từ đó tìm ra giải pháp can thiệp nào là hiệu quả cho cộng đồng. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ..."

Các bạn thử đối chiếu với ba qui tắc trên thì sẽ thấy đoạn văn trên có nhiều vấn đề. Câu văn đầu tiên báo cho chúng ta biết rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ quan trọng của xơ vữa động mạch, thế nhưng câu thứ hai thì không thêm thông tin gì, nhưng câu 3 thì có thêm ít thông tin. Rồi sau đó, tác giả nói về tỉ lệ rối loạn lipid máu, tức là xa rời câu văn đầu tiên! Nhưng điều thú vị là câu văn cuối cùng lại tuyên bố mục tiêu nghiên cứu. Như vậy, một đoạn văn mà có đến ít nhất là 3 ý trong đó, và cấu trúc đoạn văn thiếu tính logic đường thẳng.

Trích đoạn dưới đây là từ một bài báo đã công bố bàn về những công trình nghiên cứu loãng xương được trích dẫn nhiều trong lịch sử của chuyên ngành (1). Tác giả mở đầu bài báo như sau:

"Osteoporosis is a systemic disease of the bone that affects millions of people and causes burdens for both the affected individual and health systems and societies worldwide [1]. Osteoporosis is a multidisciplinary disease and therefore relevant to different medical specialities, for example, general medicine, internal medicine, endocrinology, gynaecology, orthopaedic surgery, and traumatology, but also to preclinical and basic disciplines such as physiology, pathology, and biomechanics."

Nếu bạn đọc chưa am hiểu tiếng Anh, đoạn văn này có thể hiểu như sau. Câu đầu tiên cho biết loãng xương là một bệnh lí về xương có ảnh hưởng đến hàng triệu người và là gánh nặng của hệ thống y tế và xã hội toàn cầu. Trong câu văn thứ hai, tác giả viết rằng loãng xương là một bệnh đa ngành (multidisciplinary disease) và do đó có liên quan đến nhiều chuyên khoa, chẳng hạn như y khoa tổng quát, nội khoa, nội tiết, sản khoa, chấn thương chỉnh hình, nhưng cũng có liên quan đến các ngành khác như sinh lí học, bệnh lí học, và cơ sinh học.

Có vấn đề gì với đoạn văn trên? Có hai vấn đề chính về nội dung và hình thức cấu trúc. Về nội dung, vấn đề căn bản nhất là các câu văn không có liên kết với nhau về ý nghĩa. Trong câu văn đầu, tác giả nói một chút về định nghĩa của bệnh lí và mức độ ảnh hưởng, nhưng câu văn thứ hai thì lại viết về tính đa khoa của bệnh loãng xương. Tính liên quan giữa hai câu văn rất yếu. Thật ra, ngay cả câu văn đầu đã có 2 ý rồi: định nghĩa và qui mô. Đến câu thứ hai thì chủ đề càng xa dần so với câu văn đầu. Đoạn văn này cũng không có một câu kết thúc để nhấn mạnh cái ý đầu.

Về hình thức cấu trúc, đoạn văn trên chỉ có 2 câu văn. Đáng lí ra, mỗi đoạn văn cần ít nhất là 3 câu văn. Một đoạn văn quá ngắn làm cho người đọc cảm thấy hụt hẫng, và gây ấn tượng rằng tác giả đã … hết ý.

Vậy thì câu văn trên có thể chỉnh sửa lại như thế nào? Theo tôi, đoạn văn trên nên chia thành 3 đoạn khác nhau. Đoạn văn đầu tiên mô tả bệnh lí loãng xương và các yếu tố liên quan (nếu cần). Đoạn văn thứ hai bàn về qui mô của bệnh loãng xương trong cộng đồng dân số. Đoạn văn thứ ba có thể nói về tính đa khoa của bệnh. Để mô tả bệnh lí loãng xương, có lẽ cần nên nói về định nghĩa của bệnh, sau đó giải thích các yếu tố trong định nghĩa, và kết thúc với một câu văn tóm lược. Có thể viết như sau:

"[Bắt đầu bằng một câu văn chủ đề] Osteoporosis is a systemic skeletal disease characterized by low bone mass and deterioration of bone microarchitecture. [Tiếp nối bằng những câu văn yểm trợ] Bone mass refers to the amount of bone mineral in a skeletal site, which is often summarized by an index called "bone mineral density". The concept of bone microarchitecture captures the morphology of the bone, and this includes aspects such as shape, volume, and number of trabeculae and their connectiveness. Bone mass and microarchitecture are strongly associated with bone strength, which is in turn, a main predictor of bone fracture. Fracture is the ultimate outcome of osteoporosis. [Một câu kết thúc, finale] Therefore, osteoporosis is a multifactorial disease caused by compromised bone mass and bone microarchitecture."

Câu kết của đoạn văn trên cũng mở ra một cửa sổ cho đoạn văn thứ hai để nói về tác động và qui mô của bệnh lí loãng xương. Phải suy nghĩ đến yếu tố gì để nói lên cái qui mô của bệnh trong cộng đồng. Có lẽ nói về tỉ lệ người mắc bệnh hoặc một chỉ số tương tự, như "lifetime risk" (nguy cơ trọn đời). Do đó, đoạn văn thứ hai có thể viết như sau:

"[vẫn mở đầu bằng một câu văn chủ đề] Osteoporosis is considered a serious public health burden worldwide, and the burden is mainly on fracture. In Caucasian populations, from the age of 50, one in two women and one in four men will sustain an osteoporotic fracture during their remaining lifetime. In Asian populations, the lifetime risks are slightly lower than those in Caucasians, but there is evidence that the risks are actually increasing in recent years. [Cần thêm một vài con số để nói về qui mô] Recent estimates suggest that there are almost 9 million fractures per year worldwide, and these fractures incur more than $50 billion in healthcare costs. Because osteoporosis and fracture are age-related conditions, and given the ongoing aging of the population, it is expected that the burden of osteoporosis will increase in the near future."

Sau khi đã nói qua bệnh lí và qui mô của bệnh, đoạn văn thứ ba có thể nói về nghiên cứu liên ngành. Trong đoạn văn gốc, tác giả dùng sai chữ (multidisciplinary disease), nên chúng ta cần phải chỉnh sửa cho hợp lí hơn. Đoạn này theo tôi cần phải đề cập đến nghiên cứu từ nhiều khoa để làm tiền đề cho bài báo. Có thể viết như sau:

"Given that osteoporosis and its consequence of fracture are associated with multiple risk factors, the disease has been a subject of intense scientific study. Research into osteoporosis spans from basic investigations to clinical and epidemiologic studies. Osteoporosis research involves multiple medical disciplines, including endocrinology, internal medicine, rheumatology, orthopedics, genetics and biomechanics. The international scientific interaction between medical disciplines has generated a substantial literature on the diagnosis, prognosis and management of osteoporosis."

Nói tóm lại, cách dàn bài nghị luận căn bản nhất là dựa trên cấu trúc của các đoạn văn. Mỗi đoạn văn chỉ nói lên một ý tưởng, nhưng nhiều đoạn văn nối kết lại thành một "bức tranh" hay "câu chuyện" mà tác giả muốn chuyển đến độc giả. Mỗi đoạn văn, xin nhắc lại, chỉ có ba phần: chủ đề, chứng cứ, và kết luận. Nếu các bạn tập theo cách viết này thì sẽ có được một bài báo khoa học "well written".

----


(2) Thêm ví dụ về hai đoạn văn để các bạn bình luận. Theo các bạn, đoạn văn nào (A, B hay C) là đọc được và chứng tỏ tác giả biết viết? Tôi không nói tác giả để các bạn không bị "bias". 

A
"On the other hand, the relationship between fat mass and BMD is complex and still controversial. Some studies reveal that fat mass plays detrimental effect on BMD in young population and men, while many studies of postmenopausal women showed protective effects of fatness to BMD similar to our results [20-26]. Some debate that more negative associations with fatness and bone mass in Asians since general BMI is lower in Asians than Caucasians [27-28]. Moreover, there are emphasizes that body weight and fat mass have complex collinearity lies within to analyze regression controlling one to another [14-15]. Likewise, past studies are divergent in gender, age population, and relatively low sample sizes for general interpretation of fatness to bone mass. In our study, although the population was confined to Koreans or Asians, relatively healthy general population of men and women throughout total lifespan except for actively growing phase, were included for analysis."

B
"ASEAN was originated in 1967 by the five original member countries: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, and Thailand. Brunei Darussalam joined on1984, Vietnam 1995, Laos and Myanmar 1997, and Cambodia on 1999. The aims and purposes of ASEAN are[1], amongst others, to accelerate economic growth, social progress, and cultural development in the region, to promote regional peace and stability, to promote collaboration and mutual assistance on matters of common interest, to provide assistance to each other in the form of training and research facilities, to collaborate for the better utilization of agriculture and industry to raise the living standards of the people, to promote Southeast Asian studies and to maintain close beneficial co-operation with existing international organizations with similar aims and purposes."

C
"The biggest concentrations of Hispanics, however, are in the Southwest, particularly California. In 2000, nearly two thirds of Mexican immigrants lived in the West, and nearly half in California. To be sure, the Los Angeles area has immigrants from many countries, including Korea and Vietnam. The sources of California’s foreign-born population, however, differ sharply from those of the rest of the country, with those from a single country, Mexico, exceeding totals for all of the immigrants from Europe and Asia. In Los Angeles, Hispanics—overwhelmingly Mexican—far outnumber other groups. In 2000, 64 percent of the Hispanics in Los Angeles were of Mexican origin, and 46.5 percent of Los Angeles residents were Hispanic, while 29.7 percent were non-Hispanic whites. By 2010, it is estimated that Hispanics will make up more than half of the Los Angeles population."

Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.