Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc bolero. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc bolero. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao những ca khúc trước 1975 ở miền Nam được ưa chuộng?

Nhân sự việc các quan chức văn hoá cấm hát 5 ca khúc được sáng tác trước 1975, tôi có cảm hứng chia sẻ cùng các bạn vài cảm nhận của tôi về dòng nhạc bị vùi dập đó. Câu hỏi đặt ra là tại sao những bài ca đã được sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà đến nay vẫn còn được giới thưởng ngoạn, từ bình dân đến lịch lãm, đều ưa thích. Tôi nghĩ đến 4 lí do và cũng là đặc điểm của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam: tính nhân văn, tự do tư tưởng, tính phong phú, và giàu chất nghệ thuật.


 

Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói "nhân văn", tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.

Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước ("Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam") và giữa người với người "Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu"). Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất "máu" (như câu "nhưng thép súng đang còn say máu thù" trong bài "Lính xa nhà"), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu "Hẹn em khi khắp trời nở đây hoa có tôi về". Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.

Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc.Khi nói "nghệ thuật" tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn. Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, v.v. thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.

Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như "hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi", hay "Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau"), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy ("tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời"). Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: "Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: 'Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?". Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như "Tình vui theo gió mây trôi / ý sầu mưa xuống đời / lệ rơi lấp mấy tuổi tôi / mấy tuổi xa người  / ngày thần tiên em bước lên ngôi đã nghe son vàng tả tơi." (Tình khúc thứ nhất, nhạc Vũ Thành An, lời thơ Nguyễn Đình Toàn). 

Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau của Trầm Tử Thiêng và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu "Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào" sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ. Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như vẫn vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một "phù thuỷ âm thanh". Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.

Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lí chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là "nhạc đỏ", dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hoá, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng. Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. Tại sao vậy? Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hoà, thì vẫn cảm được những câu "Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương" hay "Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay". Những lời ca đó không có biên giới chính trị.

Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai "đặt hàng" họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi "lãnh tụ" dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh.

Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt "Ca khúc Da Vàng" (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như "Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ / Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn" chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài "Kỉ vật cho em" (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: "Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime / Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã / Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả / Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa / Anh trở về trên chiếc băng ca / Trên trực thăng sơn màu tang trắng." Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền VNCH rất khó chịu với nhạc sĩ.

Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: "Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình …. thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn."

Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, v.v. đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.

Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lí hiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc "tiền chiến", từ nhạc tâm lí chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.

Tôi nghĩ 4 đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã được sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Những cấm cản chỉ là biện pháp tuyệt vọng. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một qui luật, những bài hát tuyên truyền thuần tuý, những bài ca sắc máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Đó là những social infection, rất khó tồn tại trong lòng người thưởng ngoạn. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu nghệ thuật chất, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do thì mới tồn tại theo thời gian.

Nhạc boléro trên đài truyền hình Vĩnh Long

Tôi mới xem qua vài chương trình thi hát nhạc bolero trên đài truyền hình Vĩnh Long, và phải có lời khen. Chương trình hay từ cách dàn dựng, ca sĩ, ca khúc, hoà âm phối khí, đến người MC đều rất tốt. Hiếm thấy một chương trình nhạc ở Việt Nam nào mà hay đến như thế.



Xem qua chương trình thi nhạc bolero trên đài truyền hình Vĩnh Long làm tôi thay đổi cái nhìn về dàn dựng nhạc ở trong nước. Đã vài lần xem các chương trình ca nhạc được sản xuất từ Việt Nam làm tôi thất vọng đến nỗi không muốn xem nữa. Đó là những chương trình bắt chước phong cách của Thuý Nga ngoài này, nhưng bắt chước không đạt. Nhưng chương trình "Solo cùng boléro" làm tôi thay đổi cái nhìn của mình và lạc quan hơn về khả năng cũng như tiềm năng trong nước. Đây là một chương trình được dàn dựng công phu, sân khấu khá hoành tráng và được các đạo diễn chuyên nghiệp thiết kế. Quan trọng nhất là họ không bắt chước các chương trình ở hải ngoại, mà tự thiết kế chương trình theo phong cách rất Việt Nam.

Điều làm tôi ngạc nhiên là một đài truyền hình cấp tỉnh mà có khả năng làm một chương trình qui mô và chuyên nghiệp như thế. Chắc chắn họ có sự hỗ trợ từ các chuyên gia từ Sài Gòn, nhưng họ có sáng kiến và thực hiện được một chương trình sáng tạo và hay như thế là rất đáng khen. Đây cũng là lí do tôi không ưa kiểu "tập trung hoá" và "trung ương hoá", dồn tài lực về các cơ sở ở thủ đô hay thành phố lớn, vì cách làm đó vô tình dìm các tài năng từ các tỉnh lẻ và vùng xa (như kiểu tài trợ cho khoa học). Sự thành công của "Solo cùng boléro" do một đài truyền hình tỉnh tổ chức là một minh chứng cho nhu cầu decentralization.

Chương trình nhạc thì gần như là nhạc boléro. Tuần qua, tôi vừa làm việc vừa xem qua 5 chương trình thì thấy tất cả đều là những bài nổi tiếng trước 1975 của các nhạc sĩ lừng danh với dòng nhạc boléro như Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Tú Nhi (Chế Linh), Trúc Phương, Vinh Sử, Anh Bằng, Hoàng Thi Thơ và Trịnh Lâm Ngân. Một chút ngạc nhiên nhưng là đáng khen, họ còn chọn những bài của các nhạc sĩ lính như Duy Khánh, Nguyễn Văn Đông, Mai Việt Thu, Trầm Tử Thiêng, v.v. Nghe qua những ca khúc này làm tôi có khi cảm thấy xúc động vì như là một bầu trời kỉ niệm quay về.

Phải nói là người mình có khiếu về thanh nhạc. Chương trình này qui tụ nhiều ca sĩ nghiệp dư nhưng tôi thấy ai cũng ca hay. Có người xuất thân là thợ may, người thì công chức, người là doanh nhân, người là sĩ quan trong quân đội, có cả người mẫu, có người là diễn viên điện ảnh. Và, họ đến từ mọi miền đất nước, từ Lạng Sơn đến tận Cà Mau, Kiên Giang. Các ứng viên ca sĩ ai cũng duyên dáng, ca hay và biểu diễn hết mình. Có người trình diễn mà tôi cứ tưởng họ là ca sĩ chuyên nghiệp! Có thể một số các em thí sinh trình diễn chưa biết nguồn gốc của các ca khúc đó, nhưng họ đều trình bày rất đạt, rất hay. Với đà này, và nếu họ ra ngoài thi ca nhạc, thì làm sao các đồng hương hải ngoại có thể cạnh tranh được với các thí sinh này?!

Tôi không rành về âm nhạc, nhưng là người nghe thì thấy phong cách hoà nhạc thì thật khó có chỗ nào chê. Có những bài ca thật xưa, nhưng với cách hoà âm phối khí mới làm cho các ca khúc đó trở nên hay lạ thường. Điều thú vị là ban tổ chức lấy đoạn mở đầu của bài "Xuân trên rừng cao" (một bản nhạc lính của Trầm Tử Thiêng) trong video của Thuý Nga ra làm nhạc hiệu của chương trình "Solo cùng boléro"!

Vì là chương trình thi ca nhạc, nên ban tổ chức có mời ban giám khảo. Điều đáng khen là họ mới các giám khảo là những ca sĩ thành danh ở hải ngoại như Ý Lan, Hoạ Mi, Phương Dung, Phi Nhung, Thanh Hà, Thái Châu, v.v. Cũng có ca sĩ trong nước như Đàm Vĩnh Hưng làm giám khảo. Nói chung các giám khảo cho ra nhiều nhận xét rất chí lí và tinh tế. Nghe họ phê bình và nhận xét các thí sinh, tôi cũng biết thêm vài kĩ thuật và "chiêu" trong thanh nhạc. Điều tôi thích là các giám khảo có thái độ rất lịch sự, nhã nhặn, chứ không bốp chát như tôi có lần thấy trong một chương trình khác.

Điều đáng khen trong chương trình này theo tôi là người giới thiệu chương trình (MC) tỏ ra rất chuyên nghiệp. Tôi chán nhất khi thấy các MC cầm giấy cúi đầu chằm chằm đọc, và hình ảnh này thì rất nhiều ở Việt Nam. Tôi cũng nản nhất và kị nhất là những lời nói sáo ngữ (vd như trích thơ), cải lương tính và cảm tính (kiểu như "các bạn thân thương") của các MC ngoài Bắc và một số MC trong Nam, nghe cứ nổi da gà! Nhưng các MC trong "Solo cùng boléro" thì không có những đặc điểm đó. Họ dẫn chương trình một cách tự nhiên, tuy thỉnh thoảng cũng có chút kịch (do dàn dựng) nhưng vẫn làm cho người xem khó tính thấy chấp nhận được. Họ có cầm giấy, nhưng không chằm chằm đọc. Họ không kéo dài lời dẫn, và điều đó rất quan trọng. Họ tuy không thể uyên bác như Nguyễn Ngọc Ngạn, nhưng họ khá hơn gấp trăm lần so với những người MC chỉ thích đọc. Nói chung, trình độ MC trong bối cảnh khó khăn như thế là rất được.

Nhạc boléro có một sức sống kì lạ ở cộng đồng người Việt. Trải qua bao nhiêu năm bì vùi dập, thậm chí cấm đoán, mà nó vẫn tồn tại. Không những tồn tại mà còn phát triển. Tôi không rõ nhạc boléro du nhập vào Việt Nam chính xác vào lúc nào, nhưng theo vài nguồn thì nhạc boléro xuất phát từ Tây Ban Nha vào cuối thế kỉ 18. Đó là loại nhạc được chơi chỉ bằng đàn guitar, với lời ca chỉ 4 đến 7 từ trong mỗi dòng, và mỗi đoạn chỉ 4 đến 5 dòng nhạc. Một nguồn khác thì cho biết nhạc boléro theo kiểu Mĩ Latin xuất hiện lần đầu ở Santiago (Cuba) vào khoảng cuối thế kỉ 19. Nếu lịch sử tân nhạc ở nước ta hình thành từ những năm 1930, thì có thể nói rằng nhạc boléro Việt cũng đã có mặt vào lúc đó. Như vậy, dòng nhạc này đã tồn tại và song hành cùng chúng ta ngót nghét 80 năm.

Sự thăng hoa của dòng nhạc này trong chương trình "Solo cùng boléro" còn cho thấy những ca khúc trữ tình thời trước 1975 vẫn còn sống mãi trong công chúng yêu nhạc. Những ca khúc boléro là những câu chuyện đời và chuyện tình được kể qua âm nhạc. Do đó, có thể nói rằng những ca khúc boléro là một loại thức ăn tinh thần của người Việt, nên nó có thể minh chứng cho một qui luật bất biến: những sáng tác mang tính nhân văn và nhân bản có sức sống mạnh hơn những ca khúc bị "chém giết hoá".

====

Vũ Khanh và Ý Lan trình bày ca khúc "Khi người yêu tôi khóc" với cách hoà âm mới.

https://www.youtube.com/watch?v=gsyNdCOG5ZU
"Lá thư đô thị" do một em từ miền thượng du Bắc Việt trình bày.

https://www.youtube.com/watch?v=L7shfkN9qHY

"Người đi ngoài phố" của Anh Việt Thu

https://www.youtube.com/watch?v=MyCcyh2PSmM
Một doanh nhân ca bài "Cho người tình lỡ" cũng hay. Không biết câu chuyện của chị ấy là diễn hay là tâm sự thật, nhưng ok.

Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.