Bao nhiêu năm rồi, còn mãi ra đi …

Hôm qua, đọc được một bài thơ 5 chữ của Thái Bá Tân viết về những người Việt tiếp tục bỏ nước ra đi mà thấy … buồn buồn. Tôi cũng là một trong những người "li hương" đó, nhưng tôi đã xa quê lâu rồi, còn vấn đề đang nói và đáng bàn là cho đến nay, người Việt vẫn tìm cách li hương. Thành ra, tôi chợt nhớ đến ca khúc Một cõi đi về mà trong đó có câu bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi …



Theo một thống kê (chưa đầy đủ) chỉ riêng năm 2014 đã có hơn 500 người Việt vượt biển đến xin tị nạn ở Úc. Tôi không biết con số năm 2015 là bao nhiêu, nhưng trong một chuyến về VN và ngồi bên cạnh một quan chức di trú Úc thì bà này nói con số cũng xấp xỉ 500, và tất cả đều đi bằng đường biển. Còn con số đi du lịch sang Úc và trốn ở lại thì không đáng kể. Nhưng nói chung, hiện nay số người Việt tìm đường đến Úc tị nạn phải lên đến hàng ngàn.

Tình cảnh của người Việt vượt biển đến Úc rất bi thảm. Đại đa số họ bị chận ngoài khơi và chuyển đến các trại tạm giam ở một vùng xa xôi, hẻo lánh. Một số thì được chuyển về Kampuchea theo một thoả thuận giữa Úc và chính phủ Kampuchea. Cũng có một số được chuyển đến một số trại tạm giam trong đất liền, nhưng cuộc sống thì khỏi nói ai cũng biết là rất khó khăn. Là người đi trước và may mắn định cư ở đây, ai trong chúng ta cũng ngậm ngùi và bức xúc cho tình cảnh của đồng hương mình còn bị giam cầm. Nhưng chúng ta không biết và không thể làm gì được, do chính sách của Úc là hạn chế người nhập cư bất hợp pháp.

Một quan chức di trú Úc cho biết đại đa số những thuyền nhân Việt Nam mới vượt biển đến Úc không phải là "tị nạn". Hai chữ "tị nạn" ở đây phải hiểu là "tị nạn chính trị". Tị nạn chính trị có nghĩa là thuyền nhân phải chứng minh rằng họ bị đàn áp ở Việt Nam vì lí do chính trị, họ bị kì thị tôn giáo, hay bị cắt đường sinh sống, v.v. (Nói chung là phức tạp mà tôi cũng không biết hết). Còn nếu không chứng minh được là tị nạn chính trị, thì Úc sẽ xếp những người này vào nhóm "tị nạn kinh tế". Mà, tị nạn kinh tế thì Úc không nhận và không có nghĩa vụ quốc tế để nhận. Như nói trên, theo giới chức Úc, đại đa số thuyền nhân VN mới đến Úc là tị nạn kinh tế, và do đó, họ phải hồi hương về VN.

Bốn mươi năm trước, hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển và đường bộ. Nhưng chỉ có khoảng phân nửa con số đó là sống sót và được định cư ở nước ngoài. Làn sóng người vượt biển dạo đó phải nói là gây xúc động cho cả thế giới, và tiếng Anh có một danh từ mới: boat people.  Chúng ta gọi là "thuyền nhân". Công bằng mà nói tình cảnh thời đó rất khắc nghiệt làm cho người miền Nam bỏ nước ra đi, mà nói theo người dân lúc đó là nếu cái cột điện biết đi nó cũng bỏ đi.

Nhưng công bằng mà nói Việt Nam ngày nay không phải là Việt Nam của 40 năm trước. Chế độ chính trị ngày nay cởi mở hơn và thoáng hơn trước đây nhiều. Đời sống kinh tế ngày nay khấm khá hơn trước và tiếp tục cải tiến. Đời sống tinh thần cũng dễ thở hơn. Nói chung là dù còn nhiều vấn đề, nhưng nhìn chung thì Việt Nam ngày nay khá hơn trước rất nhiều. Tôi có nhiều bạn hay nói nếu ngày xưa mà VN như ngày nay thì chẳng mấy ai tìm đường vượt biên. Tôi cũng nghĩ như thế.

Thế nhưng trong thực tế, vẫn có người tìm đường vượt biên. Trớ trêu một điều là nhiều người vượt biên có gốc từ vùng Nghệ An – Hà Tĩnh, tức là một trong những cái nôi của cách mạng. Giải thích sao cho hiện tượng này? Một chủ đề nghiên cứu xã hội thú vị đây.

Nhưng đó là những người nghèo vượt biển, và họ chỉ là thiểu số. Còn một đa số khác cũng tìm đường ra nước ngoài nhưng họ đi theo diện chính thức. Họ là những du học sinh tự túc, du học sinh từ nguồn học bổng của Nhà nước, là những doanh nhân nhiều tiền. Có khá nhiều du học sinh tự túc là con cháu của các quan chức cao cấp sang đây du học và tìm cách ở lại qua nhiều phương cách, kể cả kết hôn. Còn doanh nhân thì đem tiền sang đây đầu tư, mua nhà, nói chung là chuẩn bị cơ sở để cả nhà sẵn sàng rời Việt Nam sau này. Số ra đi chính thức này có thể lên đến hàng vạn người, chứ không phải hàng ngàn. Như vậy, dù là người nghèo hay người giàu, người Việt Nam vẫn tìm đường bỏ nước ra đi.

Vấn đề đặt ra đối với chính quyền là tại sao người ta tiếp tục bỏ nước ra đi hay có ý định di cư ra nước ngoài. Dĩ nhiên, Việt Nam không phải là một ngoại lệ, vì Tàu cũng có tình trạng này. Ở bên Tàu, người giàu cũng tìm đường di cư sang các nước phương Tây để sinh sống và làm ăn. Có một doanh nhân Tàu còn tuyên bố rằng Tàu chỉ là nơi để làm tiền, chứ không phải là nơi để sống! Có lần khi một em nghiên cứu sinh Tàu được hỏi trên tivi tại sao em muốn xin ở lại Mĩ, em này nói lí do của em chỉ có 1 chữ: Freedom. Dịch theo tiếng Việt là "tự do", hay nói hoa mĩ là "chân trời xanh". Tôi nghĩ người Việt bỏ nước ra đi hay có ý định ra đi cũng là tìm chân trời xanh hơn.

Bây giờ, sau mấy mươi năm sống ở nước người, tôi cũng nhận ra là cuộc đời chỉ là, nói như Trịnh Công Sơn, "một cõ đi về" mà thôi. Từ xưa đến nay, ai cũng muốn ra đi, mưu cầu hạnh phúc, và lúc nào cũng nhìn về phía chân trời xanh. Nhưng ít ai nhận ra là khi mình đến cái "chân trời xanh" đó thì lại thấy thêm một chân trời xanh khác, và thế là lại ra đi. Cuộc đời chỉ là những chuyến đi. Nó đúng y chang như cuộc đời của tôi. Đến Úc rồi, mình lại thấy có một chân trời kia còn tự do hơn, và khi đến nơi đó, sau cùng lại quay về nới xuất phát. Nói cho cùng thì dù là ở đâu, Việt Nam, Úc hay Mĩ, cũng chỉ là một bến tạm trong kiếp luân hồi. Mà, cái vòng luân hồi liên tục xoay chuyển, những nơi chốn mình tưởng là "định cư", là bờ cỏ xanh, nhưng thật ra thì chỉ là bến tạm, và do đó mình ảo tưởng và mộng mị:

một bờ cỏ non, một bờ mộng mị ngày xưa

Chính mộng mị này làm khổ chúng ta, làm cho chúng ta bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi.



Bàn về vụ cá chết hàng loạt và Formosa "nhận tội"


Thế là Formosa đã cúi đầu "nhận tội" đã gây ra thảm hoạ cá chết hàng loạt ở miền Trung. Sự thú nhận của Formosa chẳng làm ngạc nhiên ai, vì công chúng hình như đã biết từ lâu. Nhưng biết qua cảm nhận là một chuyện, còn tìm chứng cứ để kết luận là một chuyện khác. Có khi những quyết định mang tính chính trị hơn là khoa học (như vụ thuốc rosiglitazone chẳng hạn). Ở đây, tôi bàn qua một cách tiếp cận khoa học để kết tội thủ phạm gây cá chết hàng loạt. Tôi tiếp cận bằng mô hình nghiên cứu y khoa và khái niệm "environmentome" để có thể áp dụng tìm thủ phạm gây cá chết hàng loạt.  



Thỉnh thoảng tôi tự đặt giả thiết nếu được giao nhiệm vụ điều tra nguyên nhân cá chết hàng loạt ở miền Trung, tôi sẽ làm gì? Tôi sẽ tiếp cận vấn đề ra sao? Dĩ nhiên, đây là một vấn đề rất hệ trọng và có liên quan đến pháp lí, nên chứng cứ và dữ liệu phải chính xác. Nhưng cách tiếp cận chắc chắn sẽ không đơn giản. Dù biết thế, tôi tự đặt mình vào tình thế và tìm cách làm. Có lẽ tôi sẽ lập một uỷ ban điều tra độc lập, tức là có đại diện của các nhà khoa học từ nhiều ngành (như hoá học, sinh hoá, sinh học phân tử, ngư nghiệp, thống kê học) nhưng không có liên quan đến Nhà nước và Formosa. Uỷ ban đó có nhiệm vụ vạch những bước làm như sau:

1.  Rà soát và xác định những hoá chất mà hãng Formosa đã thải ra biển. Lượng hoá chất thải ra bao nhiêu, trong thời gian nào và bao lâu, cường độ thải ra như thế nào, ai chịu trách nhiệm việc thải hoá chất ra biển.

2.  Nghiên cứu 1: Tôi sẽ thiết kế một nghiên cứu khoa học theo mô hình "bệnh chứng". Theo mô hình này, tôi sẽ chọn khoảng vài trăm con cá đã chết (tạm cho con số là n), và phân loại cá theo trọng lượng và độ sâu mà chúng sinh sống. Con số bao nhiêu n cá phải được xác định bằng cách tham khảo y văn. Ngoài ra, tôi cũng sẽ lấy n con cá đang sống và cố gắng chọn có cùng trọng lượng. Tôi sẽ lấy mẫu tissue của hai nhóm cá, đem đi phân tích bằng mass spectrometry (dùng mô hình hiện đại nhất) để phân tích và xác định khoảng 200 hoá chất mà cá bị phơi nhiễm. Những hoá chất này dĩ nhiên bao gồm phenol, cyanide, iron hydroxides, purines, copper, zinc, v.v.

Trong nhóm cá chết, tôi sẽ yêu cầu các chuyên gia chụp hình và "chẩn đoán" xem chúng bị thương ở đâu. Một sự thẩm định tổn thương nội tạng và ngoại tạng có thể tiết lộ những thông tin thú vị về mối liên quan giữa phơi nhiễm hoá chất và nguy cơ tử vong của cá.

Phân tích: Sau khi đã có dữ liệu, tôi sẽ xây dựng một "expsome" (bản đồ phơi nhiễm) và những mối liên quan giữa các hoá chất. Tôi sẽ dùng phương pháp giống như phương pháp phân tích trong các nghiên cứu GWAS để kiểm định sự khác biệt về nồng độ các hoá chất phơi nhiễm giữa nhóm cá chết và nhóm chứng (cá sống). Tôi sẽ có một biểu đồ kiểu Manhattan, và sẽ chọn hoá chất nào có trị số P thấp hơn 0.000001 hoặc BF cao hơn 1000 để chú ý và xem như là một khám phá. Dĩ nhiên, phân tích này phải phân theo loại cá mà thí nghiệm đặt ra lúc ban đầu.

3.  Nghiên cứu 2: Bước thứ ba, cùng lúc tôi sẽ thiết kế một thí nghiệm để xác định nồng độ hoá chất trong nước biển. Theo mô hình này, tôi sẽ lấy mẫu nước ở gần hãng Formosa, nhưng phân cấp theo khoảng cách 100 m, 500 m, 1 km, 2 km, 5 km, 10 km. Ngoài ra, tôi sẽ cần một nhóm chứng, bằng cách lấy mẫu nước ở vùng rất xa và không có hiện tượng cá chết (như ở Nha Trang chẳng hạn) và cũng lấy cách bờ theo khoảng cách trên. Tôi sẽ dùng thiết bị mass spect để phân tích và xác định khoảng 200 các hoá chất trong nước biển.

Phân tích: Tôi cũng sẽ dùng phương pháp phân tích trong Nghiên cứu 1 để xác định nồng độ phơi nhiễm giữa các mẫu nước. Ở bước này, tôi cũng sẽ phân tích mối tương quan giữa nồng độ hoá chất trong nước biển và xác suất sống / chết của cá.  Phân tích này cũng phải phân chia theo loại cá.

4.  Bước thứ tư, để chắc ăn, tôi sẽ làm một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.  Từ phát hiện của Nghiên cứu 1 và Nghiên cứu 2 tôi sẽ biết hoá chất nào là đáng tình nghi. Nhưng tình nghi vẫn chưa đủ để "kết tội" cho những hoá chất đó. Do đó, bước này, tôi sẽ làm 2 thí nghiệm: một thí nghiệm trên cá, và một thí nghiệm trên tế bào. 

Thí nghiệm thứ nhất, tôi sẽ chọn những con cá còn sống và khoẻ mạnh ở Nha Trang (chẳng hạn); sau đó tôi sẽ cho chúng bị phơi nhiễm các hoá chất tôi đã tìm ra ở Nghiên cứu 1 và Nghiên cứu 2, và quan sát xem bao nhiêu cá chết và bao nhiêu cá còn sống sót. Dĩ nhiên, tôi sẽ cho phơi nhiễm từ nồng độ thấp đến cao, và qua thiết kế này, tôi sẽ biết nồng độ cỡ nào là nguy hiểm và làm cho cá chết.

Thí nghiệm thứ hai, tôi sẽ chọn ra một số nội tạng phát hiện trong Thí nghiệm 1, và challenge với các hoá chất trong phòng thí nghiệm. Tôi sẽ đo lường DNA methylation của các nội tạng cá đã chết và nội tạng cá sống để biết các hoá chất phơi nhiễm đã kích hoạt những gen nào làm cho cá chết.

Nếu kết quả các nghiên cứu trên nhất quán nhau, thì tôi mới có lí do khoa học để phán quyết rằng hoá chất nào đã làm cho cá chết, và hoá chất đó có liên quan đến Formosa hay không. Đây là mô hình để tìm nguyên nhân gây bệnh, rất phổ biến trong các nghiên cứu y khoa. Tìm ra mối liên quan giữa A và bệnh vẫn chưa đủ thuyết phục; phải can thiệp vào A xem có thay đổi bệnh hay không thì mới thuyết phục. Tương tự, nếu chỉ tìm mối liên quan giữa hoá chất A và cá chết vẫn chưa đủ, cần phải làm thí nghiệm can thiệp bằng hoá chất A xem nguy cơ tử vong của cá là bao nhiêu mới có thể phát biểu nguyên nhân - hệ quả được. 

Thủ phạm chỉ là phenol và cyanide?

Nhưng trong thực tế thì Formosa đã "nhận tội", nên những bàn tính trên chỉ mang tính ... mua vui mà thôi. Đọc qua báo chí, tôi thấy có vẻ các quan chức tập trung vào hai hoá chất phenol và cyanide. Trả lời câu hỏi dựa vào căn cứ nào để xác định Formosa là nguyên nhân làm cho cá chết, một quan chức cho biết rằng kết quả xét nghiệm của các nhà khoa học cho thấy hơn 50% mẫu cá chết có chưa phenol và cyanide, và hãng Formosa thải ra biển hai hoá chất này (1).

Đây là một dữ liệu quan trọng, nhưng có lẽ ... chưa đủ. Con số "hơn 50%", tôi đoán là trong khoảng 50 và 60%. Bởi vì nếu gần 100% thì không ai nói "hơn 50%". Chúng ta không biết bao nhiêu cá đã được xét nghiệm, và bao nhiêu là dương tính cho phenol, bao nhiêu dương tính cho cyanide, và bao nhiêu dương tính cho cả hai phenol và cyanide. Không chỉ dương tính, mà cần phải biết nồng độ của hai hoá chất này ra sao. Không có những dữ liệu này rất khó diễn giải kết quả xét nghiệm. Cũng giống như nếu tôi nói có 50% bệnh nhân bị phơi nhiễm hoá chất A, thì tôi vẫn chưa thuyết phục được A là nguyên nhân của bệnh, vì tôi còn thiếu nhóm không mắc bệnh (nhóm chứng). 

Một điều hết sức quan trọng là thiếu nhóm chứng. Chúng ta không biết trong những con cá sống (có thể ở vùng biển khác) thì nồng độ phenol và cyanide là bao nhiêu, và bao nhiêu cá có dương tính hai hoá chất này. Giả dụ rằng nếu ở nhóm cá sống (nhóm chứng), mà có đến 40% bị nhiễm phenol và cyanide, thì chúng ta sẽ kết luận ra sao? So sánh giữa 40% trong nhóm cá sống và 50% trong nhóm cá chết sẽ cho ra kết quả, nhưng kết quả đó chưa đủ thuyết phục để kết luận hai hoá chất này là nguyên nhân gây cá chết hàng loạt. Nếu nhóm chứng có 0% phơi nhiễm thì chúng ta có lí do để nói chút chút (nhưng nếu nhóm chứng có tỉ lệ 80% phơi nhiễm thì chúng ta sẽ gặp trở ngại). Nói như thế để thấy rằng thiếu nhóm chứng làm cho kết quả rất khó diễn giải.

Nhưng một điều kì lạ là trong một xét nghiệm nước biển ở Lăng Cô (nơi cũng có hiện tượng cá chết hàng loạt) thì không phát hiện nồng độ phenol và cyanide (2)! Tuy nhiên, nồng độ chromium thì tăng đáng kể. Mà, chromium là một trong những nguyên nhân làm cá chết (3). Nhưng ngay cả những số liệu trong bảng này cũng khó diễn giải vì thiếu các chỉ số như standard deviation và không rõ phân bố ra sao.


    Bảng kết quả đo đạc các mẫu nước ở đầm Lập An (2). 


Quay lại dữ liệu hơn 50% cá chết bị nhiễm phenol và cyanide, chúng ta thấy gì? Nói cách khác, phenol và cyanide chỉ giải thích được khoảng phân nửa vì sao cá chết. Vậy còn phân nửa khác là do thủ phạm nào? Đây là câu hỏi quan trọng, nhưng chúng ta không/chưa biết. Có thể là do các hoá chất khác như kẽm, đồng, thuỷ ngân, cadnium, và các hoá chất khác. Do đó, chỉ tập trung vào phenol và cyanide tôi sợ là Nhà nước VN đã bỏ qua những thủ phạm có thể còn quan trọng hơn.

Nói tóm lại, tôi nghĩ ngoài phenol và cyanide có thể là thủ phạm gây cá chết hàng loạt, còn có những thủ phạm khác cũng có thể nguy hiểm không kém. Ở đây, về mặt khoa học, chúng ta chỉ có thể nói "có thể" thôi, chứ không khẳng định được, bởi vì chưa có nhóm chứng và chưa có những thí nghiệm mà tôi mô tả trên, chúng ta không thể nói về nguyên nhân và hệ quả được. Nhưng dĩ nhiên, khoa học rất khác với chính trị, và nhiều khi người ta có thể đi đến quyết định nhanh và bỏ qua những rườm rà và phức tạp của khoa học.

====

(1) http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-truong-tran-hong-ha-toi-vua-trai-qua-84-ngay-cang-thang-nang-triu-3428300.html

(2) http://vntinnhanh.info/buoc-dau-ket-luan-nguyen-nhan-ca-chet-hang-loat-tai-hue.html

(3) http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0045653581901831


Trải nghiệm một ngày bầu cử ở Úc


Hôm nay (2/7) là ngày bầu cử liên bang ở Úc. Tất cả người dân 18 tuổi trở lên bắt buộc phải đi bầu để chọn người đại diện cho mình. Sự lựa chọn rất phong phú, vì ở hạ nghị viện có 3 đảng chính là Liberal, Lao Động, và Đảng Xanh (Green Party); còn ở thượng nghị viện thì có đến hàng trăm ứng viên của hàng trăm đảng phái. Đúng là một chế độ dân chủ ... "trăm hoa đua nở". Tuy nhiều đảng phái, nhưng cuối cùng thì chỉ có 2 đảng chính là Liberal và Lao Động luân phiên nhau cầm quyền. Năm nay, tôi đoán rằng đảng Liberal của đương kim thủ tướng Malcolm Turnbull sẽ thắng cử.



Ngày bầu cử ở Úc đúng như là một ngày hội chính trị. Ngày bầu cử thường xảy ra vào ngày thứ Bảy. Địa điểm bầu cử thường là các trường học. Phía ngoài địa điểm bầu cử là một rừng cờ quạt, biểu ngữ, hình ảnh, cùng các tình nguyện viên tiếp thị chính trị, tất cả tạo nên một không gian náo nhiệt và ... vui. Các tình nguyện viên của các đảng miệng ơi ới, tay đưa tờ rơi, tranh nhau tiếp thị cho đảng của họ. Họ thường mặc đồng phục màu mè, tay cầm tờ rơi hoặc lá phiếu cố gắng thuyết phục cử tri bầu cho đảng của họ. Các đối thủ tình nguyện viên của các đảng phái đứng bên cạnh nhau, và tươi cười cạnh tranh, hoàn toàn không có thái độ thù địch với nhau.

Thỉnh thoảng cũng có những tranh luận bỏ túi giữa cử tri và tình nguyện viên. Chẳng hạn như sáng nay, tôi thấy một cử tri cao tuổi chỉ vào tình nguyện viên Đảng Lao động và mắng nhiếc rằng [dịch sang tiếng Việt]: "Cái đảng của cô là một quân phản bội. Đảng của cô đang bán đất nước này cho China!" (Có lẽ ông muốn nói tình trạng các doanh nghiệp Tàu lần lượt mua đất và mỏ của Úc.) Cô tình nguyện viên giơ tay xin giải thích, nhưng ông cử tri đã lụm khụm bỏ đi.

Ở một đất nước tương đối giàu có và an bình thì họ chẳng có gì để nói trong lần bầu cử. Mấy mươi năm qua, tôi thấy lần bầu cử nào cũng xoay quanh ba chủ đề công ăn việc làm, y tế, và giáo dục. Đảng nào cũng tố cáo đối thủ là làm mất công ăn việc làm của người dân, là đang phá hoại hệ thống y tế, là làm cho giáo dục trở nên đắt tiền hơn. Có năm ồn ào nhất là vấn đề người nhập cư liên quan đến người Việt. Năm đó một ứng viên ở bang Queensland tên là Pauline Hanson đặt vấn đề tại sao Úc nhận quá nhiều di dân từ Á châu như Việt Nam. Bà nói rằng người Á châu sang đây lấy công ăn việc làm của người bản xứ, là gánh nặng của hệ thống an sinh xã hội Úc. Nói chung bà nói xấu người Á châu khá nhiều. Bà thuyết phục cử tri rằng nếu bà đắc cử, bà sẽ hạn chế di dân Á châu. Chủ trương kì thị và lới hứa hẹn này làm cho bà trở nên nổi tiếng, và bà đắc cử.

Có năm, đảng Lao Động đưa ra một khẩu hiệu tôi thấy rất hay và hợp lí: "Education is a right, not a privilege" (Giáo dục là một quyền, chứ không phải là đặc quyền. Ý nói rằng giáo dục là một quyền căn bản của công dân, chứ không phải đặc quyền của người giàu có, và do đó, giáo dục phải ... miễn phí. Trong quá khứ thì đúng là Úc có nền giáo dục miễn phí. Thời tôi còn đi học (tức thập niên 1980s) thì hoàn toàn miễn phí, chẳng đóng một đồng nào cả. Ngay cả thời con tôi đi học đại học vào thế kỉ 21, khi Úc đã chuyển sang "chế độ" lấy học phí, thì mỗi năm cũng chỉ đóng khoảng 3000 đôla mà thôi. Nhưng nay thì học phí đại học đã lên đến hàng chục ngàn đôla. Do đó, chủ đề nóng bỏng năm nay là giáo dục. Đảng đối lập Lao Động tố cáo rằng đảng Liberal đang có kế hoạch bí mật tăng học phí đại học và con em chúng ta sẽ mang nợ cả 100,000 đôla sau khi tốt nghiệp! Đảng Lao Động còn rêu rao rằng đảng Liberal sẽ tư nhân hoá hệ thống medicare (tức hệ thống an sinh y tế rất tốt của Úc) và do đó sẽ làm tăng chi phí y tế.

Đảng Liberal chối bai bải là họ không có những kế hoạch đó. Liberal tố cáo rằng đảng Lao Động là một nhóm người chuyên nói láo. Ngược lại, đảng Liberal tố rằng Lao Động đang có kế hoạch đánh thuế vào người mua nhà, và sẽ làm hại nền kinh tế Úc. Họ rêu rao rằng đảng Lao Động là cái đảng chuyên xài tiền vô tội vạ. Họ chỉ ra một thực tế là thời gian đảng Liberal cầm quyền thì ngân quĩ lúc nào cũng cân bằng và dự trữ dồi dào, nhưng khi Lao Động lên nắm quyền thì họ phung phí ngân quĩ đó. Đảng Liberal cho rằng đảng Lao Động là đảng nuôi dưỡng những kẻ lười biếng, không chịu lao động, và do đó làm cho nền kinh tế Úc nghèo nàn. Trong thực tế, một số cáo buộc của đảng Liberal cũng có cơ sở chứ không phải vô lí.

Năm nay, đảng Liberal đưa ra một chính sách mà tôi nghĩ sẽ thu hút nhiều cử tri trong giới khoa bảng và khoa học: Innovation. Khi ông Malcolm Turnbull lên làm thủ tướng, việc đầu tiên ông làm là uỷ nhiệm cho một uỷ ban đánh giá lại thành tựu khoa học và cách tân của Úc. Sau gần 1 năm, uỷ ban này đệ trình một báo cáo "màu xám". Trong báo cáo, họ khen Úc có những nghiên cứu cơ bản rất tốt, với số lượng và chất lượng bài báo khoa học trên các tập san ISI rất cao so với những nước cùng nhóm. Nhưng Úc rất kém trong việc cách tân, và đặc biệt là chuyển giao công nghệ. Khám phá thì tốt, nhưng không biến thành sản phẩm hữu dụng là một điểm yếu của Úc.

Do đó, ông Turnbull hô hào cho ra đời cái ông gọi là "National Innovation and Science Agenda". Ông hô hào tất cả các lĩnh vực xã hội phải nghĩ đến innovation, từ công nghệ thông tin đến y tế, giáo dục, nông nghiệp, giao thông vận tải, và quân sự, phải sáng tạo, phải "thông minh" hơn. Phải làm sao giúp nước Úc ở biên cương của khám phá và sáng chế, phải làm cho Úc có khả năng cạnh tranh tốt trên trường quốc tế, phải tạo công ăn việc làm, và phải làm cho người Úc có đời sống có chất lượng cao.

Nói là làm. Ông Turnbull tuyên bố sẽ dành thêm 1.1 tỉ đôla trong vòng 4 năm để yểm trợ các chương trình cách tân khoa học và công nghệ. Không chỉ nói chung chung, chính phủ Turnbull đề ra một loạt chương trình cách tân, trong đó có quantum computing, chuyển giao khám phá từ nghiên cứu y học, Big Data và chia sẻ dữ liệu (data sharing), đổi mới cách đánh giá nghiên cứu khoa học trong các đại học, thu hút nhân tài nước ngoài về Úc, sáng lập những chương trình "ươm mầm" sáng kiến, v.v. Những ai, kể cả tôi, làm trong khoa học đều nhận ra đây là những vấn đề rất thiết thực và ít nhiều thấy mình có liên quan, nhất là vấn đề Big Data và chuyển giao kết quả nghiên cứu.

Nói chung, đây là một chương trình qui mô mà chưa có một chính phủ nào từ trước đến nay quan tâm. Chính phủ Turnbull của đảng Liberal đã nhận dạng được vấn đề và có hành động thiết thực. Do đó, tôi nghĩ đảng Liberal lần này sẽ kiếm được nhiều phiếu từ giới khoa học và đại học.

Nhưng ở vùng tôi, tôi bị dằn co một thực tế, một bên là sự ủng hộ cho ông Turnbull vì chính sách innovation, một bên là ... tình cảm đồng hương. Số là địa phương tôi có một anh chàng đương kim dân biểu (và đang ứng cử để tái cử), anh này thuộc đảng Lao Động. Cái điều quan trọng là anh này có vợ người Việt. Anh chàng dân biểu này và vợ anh ta gặp nhau thời học đại học, rồi thành hôn với nhau sau này. Vợ anh ta là con gái của một trong những người bạn của tôi từ thời tị nạn vào thập niên 1980. Họ cũng như tôi đây đúng là người của giai cấp lao động. Cái anh chàng dân biểu đó cũng là giai cấp lao động. Thấy hai vợ chồng ngày ngày đứng ở các khu phố, các trạm xe lửa, xe bus để xin phiếu mà ... tội nghiệp. Anh ta còn "tâm lí" đến nỗi dùng tiếng Việt trong các biểu ngữ tranh cử.

Do đó, vì tình cảm đồng hương, vì tiếng gọi của con tim, tôi chắc phải bầu cho anh ta, dù lí trí bảo tôi nên bầu cho đối thủ của anh ta là đảng Liberal. Dù thế nào thì tôi biết chắc chắn một điều là anh ta sẽ tái đắc cử (vì vùng anh ta ứng cử là quê hương của đảng Lao Động), còn xác suất đảng Liberal đắc cử liên bang có thể không là 100%, nhưng chắc phải hơn 60%. Thôi, dù lí trí thì đang suy nghĩ về Liberal, nhưng vì tình cảm, tôi bầu cho Lao Động lần này. Dù sao thì tôi cũng cảm thấy mình may mắn vì có quyền lựa chọn ứng viên và chính sách, chứ ở nhiều nơi khác thì chắc gì cử tri đã có lựa chọn.

===

Ghi thêm ngày 3/7/2016: Đáng lí ra ngày hôm qua là đã có kết quả ai thắng cử và ai thất cử, nhưng vì kết quả quá gần nhau giữa 2 đảng Liberal và Lao động, nên cho đến nay, chưa thấy phe nào dám nói là đã thắng cử. Đây là một trong những kì bầu cử hiếm hoi, mà kết quả quá "sát nút", nên không ai dám nói gì. Cho đến giữa ngày 3/7, kết quả là:

Đảng Liberal được 65 ghế. 
Đảng Lao động: 67 ghế. 

Theo hiến pháp, phải cần đến 76 ghế thì mới thành lập chính phủ. Mấy vị đứng đầu đảng chắc sẽ mất ăn mất ngủ trong vài ngày đây. :-) 

Có thể theo dõi kết quả ở đây: http://www.abc.net.au/news/federal-election-2016/results/


Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.