Chỉ số tiến bộ xã hội (Social Progress Index) của Việt Nam


Lấy tiêu chí gì để đánh giá thành công và thất bại của một quốc gia. Đây là một câu hỏi quan trọng, vì qua đó chúng ta có thể đánh giá sự tiến triển của một quốc gia. Một nước giàu có trên con số mà dân còn nghèo nàn (ví dụ như các nước Ả Rập) thì chắc khó nói là thành công. Đã 42 năm sau ngày thống nhất đất nước, câu hỏi VN đã thành công hay thất bại nó cứ ám ảnh nhiều người.



Tôi thích lấy Nam Hàn ra làm điểm tham chiếu (không hẳn là để so sánh). Lí do chọn Nam Hàn là vì nước này và VN có nhiều điểm giông giống nhau. Hai dân tộc đều chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Khổng Mạnh. Hai dân tộc, nếu nói về thông minh và cần cù làm việc, chưa biết ai hơn ai. Hai nước cùng trải qua chiến tranh ác liệt và chia đôi đất nước, một bên theo cộng sản và một bên theo tư bản. Theo nhiều nguồn, thời thập niên 1955-1960 Nam Việt Nam và Nam Hàn có thu nhập bình quân tương đương (nhưng tôi chưa có con số cụ thể). Nhưng sau chiến tranh, Nam Hàn phát triển rất nhanh chỉ trong 30 năm là thành hổ, thành rồng, sánh vai cùng câu lạc bộ OECD. Còn Việt Nam, sau 42 năm chúng ta thành gì ? Không nói ra thì các bạn cũng biết rồi. Nhưng chúng ta thử xem vài dữ liệu xem sao.

GDP

Thông thường, giới kinh tế sử dụng tổng sản lượng quốc gia (GDP) để đánh giá sự thịnh vượng của một quốc gia. Chỉ số này thật ra có một lịch sử hơn 80 năm, từ khi nhà kinh tế người Mĩ Simon Kuznets đề xướng. Nhưng những năm gần đây, giới xã hội học và kinh tế học đã nhận ra sự giới hạn của GDP, bởi vì nó không phản ảnh được sự thành công của một xã hội. Cuộc Cách mạng Mùa Xuân ở Ả Rập diễn ra ở các nước Ả Rập có GDP cao hay rất cao, hay những bất ổn ở Brazil (nơi có tỉ lệ tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng) là hai ví dụ về sự hạn chế của GDP.

GDP của Việt Nam năm 2015 là ~194 tỉ USD. GDP của Nam Hàn cùng năm là 1378 tỉ USD, cao gấp 7 lần Việt Nam. Thu nhập bình quân của VN năm 2015 là 2111 USD, chưa bằng 1/10 của Nam Hàn (27221 USD).

Chỉ số HDI

Liên hiệp quốc nhận ra khiếm khuyết của GDP, nên 25 năm trước họ cho ra đời một chỉ số mới có tên là "Human Development Index" (Chỉ số Phát triển Con người, HDI) (1). Sự ra đời của HDI được xem là một bước phát triển quan trọng trong việc đánh giá sự thành bại của một quốc gia. Tuy nhiên, HDI có vài hạn chế, vì nó vẫn lệ thuộc vào GDP và các chỉ số về môi trường vốn rất khó đo lường.

Kết quả phân tích năm 2016 của LHQ cho thấy Việt Nam có chỉ số là 0.683 (tối đa là 1). Trong số 188 quốc gia được xếp hạng, Việt Nam đứng hạng 115, tức trung bình, cùng nhóm với các nước như Phi Luật Tân, Iraq, Nicaragua, Palestine, Bolivia. Nam Hàn đứng hạng 18, Thái Lan 87, Mã Lai 59, Singapore 5.

Chỉ số SPI

Mới đây một nhóm nhà kinh tế đề xướng một chỉ số mới họ gọi là Social Progress Index (SPI, Chỉ số Tiến bộ Xã hội) (2). Chỉ số SPI, như tên gọi, đo lường sự tiến bộ của xã hội. Hình như chỉ số này ít được báo chí trong nước đề cập đến. Đây là một chỉ số do nhóm kinh tế gia, dẫn đầu bới nhà kinh tế Michael Porter, phát triển. Chỉ số SPI là bình quân của ba tiêu chí như sau:

(a) Nhu cầu cơ bản. Quốc gia có khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản của công dân? Những nhu cầu này bao gồm thực phẩm, dinh dưỡng, và y tế; nước và vệ sinh; nơi an cư; an toàn cá nhân.

(b) Nền tảng phúc lợi: Quốc gia có những thể chế và điều kiện sẵn sàng giúp công dân họ cải thiện chất lượng cuộc sống? Những vấn đề trong câu hỏi này bao gồm kiến thức căn bản, quyền được có thông tin, chất lượng môi trường.

(c) Cơ hội: Quốc gia có cung cấp một môi trường mà trong đó công dân có cơ hội để đạt được tiềm năng của mình. Trong tiêu chí này có những tiêu chuẩn như quyền cá nhân, tự do cá nhân và lựa chọn, dung hợp và hòa hợp, quyền về giáo dục.
Mỗi tiêu chí được tính toán và chuẩn hóa sao cho có giá trị từ 0 (tối thiểu) đến 100 (tối đa).

Trong số 134 quốc gia được xếp hạng, nước có SPI cao nhất là Phần Lan với SPI là 90.09. Kế đến là Canada (89.49), Đan Mạch (89.39), Úc (89.13), Thụy Sĩ (88.87), Thụy Điển (88.80), Na Uy (88.70). Riêng Mĩ đứng hạn 19 với SPI là 84.62, cao hơn Nam Hàn hạng 26 (SPI 80.92).

Còn Việt Nam? Số liệu cho Việt Nam không đầy đủ, nên họ không xếp hạng. Tuy nhiên, tôi tìm ra những dữ liệu trong bảng của họ, và tính được chỉ số SPI chung là 57.81. Với điểm này, Việt Nam đứng hạng 95 trên 134 quốc gia về tiến bộ xã hội. Với điểm này, Việt Nam đứng chung bảng với Tajikistan, Iran, Nepal, Senegal, Cambodia, Ấn Độ, hay nói chung là những nước lạc hậu.

Bảng SPI cho Việt Nam dựa trên 3 tiêu chí trên là như sau:

(a) Nhu cầu cơ bản:
• Thực phẩm và y tế: 91.55
• An toàn cá nhân: 75.23
• Cư trú: 74.36
• Nước và vệ sinh: 71.45 
• Điểm chung: 78.15.

(b) Nền tảng phúc lợi:
• Y tế và sức khỏe: 76.28
• Truy cập thông tin: 58.78
• Phẩm chất môi trường: 58.20
• Điểm chung: 58.78.

(c) Cơ hội: 
• Tự do cá nhân: 65.09
• Dung hợp và hòa hợp: 44.25
• Tiếp cận giáo dục bậc cao: 28.42 
• Quyền cá nhân: 8.24
• Điểm chung: 36.5


Trong khi đó, các nước Đông Nam Á đều cao hơn Việt Nam. Chẳng hạn như Thái Lan (61), Mã Lai (50), Nam Dương (82), Phi Luật Tân (68), đều cao hơn Việt Nam. Riêng Singapore vì không đủ số liệu nên không xếp hạng.

Nói tóm lại, dù dựa trên GDP, chỉ số phát triển con người (HDI), hay chỉ số tiến bộ xã hội (SPI), thì Việt Nam vẫn đứng rất thấp trong thế giới hiện đại. Tuy các chỉ số về thực phẩm và y tế của VN không cao nhưng cũng không tệ, các chỉ số về tiếp cận thông tin và quyền cá nhân còn quá thấp. Những số liệu này có lẽ nói lên một thực tế rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian chưa đủ để nói rằng Việt Nam là một quốc gia thành công.

Các bạn nghĩ sao? Với những dữ liệu trên, các bạn hiểu như thế nào? Tôi rất muốn nghe diễn giải của các bạn.

-----



Hình chụp từ Google về ánh đèn điện ở Nam Hàn và Bắc Hàn, trong cuốn sách "Why Nations Fail" của Daron Acemoglu và James Robinson.


Cách đọc một bài báo khoa học

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nhận được email hỏi cách đọc một bài báo khoa học như thế nào. Đọc phần nào trước, và cần có kĩ năng gì để lĩnh hội nội dung của một bài báo khoa học. Tôi nghĩ câu trả lời tuỳ thuộc vào vai trò của người đọc, là đọc tham khảo hay vai trò của editor của tập san. Trong cái note này tôi chỉ chia sẻ kinh nghiệm cá nhân, có nghĩa là từ vai trò của người đọc để tham khảo.





Trong vai trò người đọc, tôi thường bắt đầu rất nhanh với tựa đề bài báo và sau đó đọc phần abstract (bản tóm tắt). Tựa đề bài báo, nếu được soạn thảo có suy nghĩ (nói theo tiếng Anh là "thoughtful"), thì có thể chuyển tải cái thông điệp chính của bài báo. Nhưng cũng không chắc lắm, vì một số tác giả có xu hướng đặt tựa đề trung dung, không nói lên cái thông điệp nào cả. Cũng có tác giả đặt tựa đề một cách giật gân, không nhất thiết phải tương đồng và nhất quán với dữ liệu thật.

Do đó, sau phần tựa đề, tôi phải đọc qua phần abstract. Abstractlà một "bức ảnh" của bài báo khoa học, hay cũng có thể xem là một phiên bản thu gọn của bài báo. Nếu abstract viết theo thể có tiêu đề theo cấu trúc (như background, aim, methods, results, và conclusion) thì rất dễ theo dõi. Nhưng có nhiều tập san thì yêu cầu tác giả viết abstract theo dạng không có tiêu đề, và trong trường hợp này thì hơi khó theo dõi. Nhưng dù là ở dạng nào thì thời gian đọc abstract cũng chỉ 10 phút là cao nhất. Vì thế, nhất định phải đọc abstract trước. Vừa đọc vừa ghi ra những con số cụ thể, và so sánh với phần kết luận xem có nhất quán hay không. Có một số tác giả viết phần kết luận hơi "chênh" với dữ liệu thực tế. Chúng ta, người đọc, phải quyết định tin hay không tin vào kết luận dựa trên dữ liệu thật, chứ không phải dựa trên câu chữ của tác giả.

Sau phần abstract, tôi sẽ đọc các bảng số liệu, biểu đồ, hình ảnh (nếu có) trong bài báo. Bảng số liệu và biểu đồ là "trái tim" của bài báo khoa học. Tác giả có thể dùng chữ hoa mĩ, vặn vẹo từ ngữ, nhưng không thể nào vặn vẹo được dữ liệu. Nếu tác giả là người có kinh nghiệm tốt, thì mỗi biểu đồ và mỗi bảng số liệu đều nói lên một điểm. Chỉ cần nhìn vào một bảng số liệu hay một biểu đồ được thiết kế tốt, người đọc có thể biết được một thông điệp. Sau khi "lắp ráp" các thông điệp từ các bảng biểu, người đọc đã có một câu chuyện mà tác giả muốn chuyển tải đến người đọc.

Thỉnh thoảng, tôi viết ra những số liệu quan trọng, và nếu cần thiết tôi sẽ tự mình phân tích lại. Một số bài báo trình bày dữ liệu rõ ràng giúp cho người đọc có thể tự mình "đọc" bằng cách phân tích lại. Tuy đại đa số bài báo tác giả phân tích đúng, nhưng cũng có vài trường hợp mà kết quả của tôi không phù hợp với kết quả tác giả báo cáo, và những ca này làm tôi phải suy nghĩ và đặt câu hỏi tại sao. Có thể tác giả hiệu chỉnh mà tôi không có dữ liệu để làm, và như thế tôi có thể biết thêm một cách diễn giải khác. Nhưng nói chung, rất cần viết xuống những dữ liệu quan trọng để ... nghiền ngẫm.

Sau khi đọc xong bảng biểu, tôi sẽ chú ý đến chi tiết trong phần Methods (phương pháp). Phần phương pháp có thể xem như cơ chế của bài báo khoa học. Trong phần này, tôi chú ý đến phương pháp đo lường nhất, vì giá trị khoa học của công trình nghiên cứu là ở phần này. Phẩm chất của đo lường chính là yếu tố quyết định tính hợp lí nội tại của bài báo. Sau đó, tôi sẽ xem cách họ chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn nào, vì phần này liên quan đến khái niệm "hợp lí ngoại tại". Tôi không quan tâm mấy đến cái gọi là "tính đại diện", nhưng tôi rất quan tâm đến tính "thông minh" trong thiết kế nghiên cứu. Một phần khác cũng quan trọng không kém là phương pháp phân tích dữ liệu, vì phần này quyết định một phần cái thông điệp của bài báo. Phương pháp phân tích là gì, biến outcome là gì, biến tiên lượng là gì, có hiệu chỉnh cho yếu tố nhiễu hay không, nếu có thì dùng phương pháp gì, dùng nhu liệu nào cho tính toán (nếu dùng Excel là xem như vứt đi, vì thiếu tính chuyên nghiệp). Đôi khi, chỉ cần đọc qua phần phương pháp và phân tích dữ liệu là biết đẳng cấp của tác giả ở đâu.

Sau cùng, tôi sẽ đọc phần Discussion (bàn luận). Thật ra, đọc phần này chỉ để biết quan điểm của tác giả là gì, và tìm những tài liệu tham khảo liên quan. Phần bàn luận phản ảnh "tri thức" của tác giả thâm hậu cỡ nào; tác giả có kiến thức tốt viết phần này đọc rất hay, còn tác giả xoàng thì chỉ đọc vài dòng là biết họ chẳng có ý gì. Những bài báo quan trọng từ các labo nghiên cứu có tiếng thường được viết rất hay, và đây cũng là cách để tôi học cách viết, thậm chí học những từ ngữ hay của họ. Chú ý đến ý nghĩa của kết quả, và cách tác giả bàn về cơ chế của ảnh hưởng. Nếu phần bàn luận được viết tốt, phải có vài dòng đề cập đến những điểm mạnh và điểm yếu của nghiên cứu.
Đọc xong bài báo, người đọc phải trả lời 3 câu hỏi sau đây:

• Câu hỏi 1: tôi có thể tin vào kết quả của bài báo này? Tin vào thông điệp nào?

• Câu hỏi 2: nếu tin, tôi phải làm gì? có cần thay đổi thực hành? 

• Câu hỏi 3: tôi học được gì từ bài báo này, và nếu tôi phải làm lại, tôi sẽ làm như thế nào?

Câu hỏi thứ nhất có thể đánh giá qua trị số P, qua khoảng tin cậy 95%, và sự nhất quán giữa các kết quả. Nếu các kết quả nghiên cứu đều nói lên một "câu chuyện" nhất quán với nhiều nghiên cứu trước đây thì đó là kết quả đáng tin cậy. Đây chính là tính đại diện trong khoa học.

Câu hỏi thứ hai rất quan trọng, vì có nhiều công trình tuy kết quả tốt, nhưng chẳng gây tác động gì đáng kể. Nếu một can thiệp chỉ giảm nguy cơ gãy xương khoảng 5% (chỉ là ví dụ) thì mức độ ảnh hưởng quá nhỏ, khó có thể thay đổi thực hành lâm sàng (dù có ý nghĩa khoa học).

Câu hỏi thứ ba mang tính khoa học và phương pháp. Nếu phương pháp mà tác giả sử dụng tốt thì câu hỏi đặt ra là có phương pháp nào khác, có cách tiếp cận nào khác tốt hơn, rẻ tiền hơn, mà có thể cho ra kết quả với chất lượng cao. Một câu hỏi khác là nếu với dữ liệu trình bày, chúng ta có thể phân tích lại bằng một phương pháp khác (như Bayes chẳng hạn) và kết quả có làm thay đổi kết luận của tác giả.

Nói tóm lại, đọc một bài báo khoa học vừa là một nghệ thuật mà cũng là một khoa học. Nghệ thuật ở chỗ đặt thông điệp vào bối cảnh chung, cái đẹp của dữ liệu, và tri thức mới. Khoa học là so sánh và tính tái lập của kết quả nghiên cứu. Cũng như "văn ôn võ luyện", đọc bài báo khoa học là một thói quen cần phải được luyện tập thường xuyên, cố gắng mỗi tuần phải đọc ít nhất một bài báo quan trọng và rút ra ít nhất một thông tin mới.

----

Ghi thêm:Một ví dụ tiêu biểu về đọc báo khoa học là bài tôi mới đọc hồi tuần vừa qua. Đó là bài trên JAMA về công trình RCT đánh giá ảnh hưởng của bổ sung calcium và vitamin D (viết tắt CaD) xem có giảm nguy cơ ung thư không (1). Đầu tiên tôi thấy tựa đề nằm trong "radar" quan tâm của mình, vì tôi đang nghiên cứu về CaD ở bệnh nhân loãng xuơng. Yếu tố thứ hai tôi quan tâm là bài báo được công bố trên JAMA và từ một nhóm tác giả tôi biết.

Đọc bản abstract, tôi chú ý ngay đến đoạn tác giả kết luận "among healthy postmenopausal older women ... supplementation with vitamin D3 and calcium compared with placebo did not result in a significantly lower risk of all-type cancer at 4 years." (Tác giả kết luận rằng bổ sung CaD sau 4 năm không làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư ở phụ nữ sau mãn kinh). Nhưng tôi rất ngờ kết luận này. Lí do là vì trong bản abstract, tác giả báo cáo rằng bổ sung CaD giảm nguy cơ ung thư đến 30%. Nhưng vì tỉ số nguy cơ [relative risk] có khoảng tin cậy 95% dao động từ 0.47 đến 1.02, và trị số P = 0.06, nên tác giả nói rằng "not significantly"!

Đây là một kết luận tôi hay gọi là nô lệ vào thống kê, mà bỏ qua giá trị lâm sàng. Chỉ vì P cao hơn 0.05 chỉ có 1% mà tác giả kết luận rằng không có ảnh hưởng! Trong khi đó số liệu cho thấy rõ ràng rằng bổ sung CaD có thể làm giảm nguy cơ ung thư đến 53%, mặc dù có một xác suất nhỏ là CaD có thể tăng nguy cơ 2%. Nhưng nhìn chung, lợi vẫn cao hơn "hại" rất rất nhiều.

Do đó, bước kế tiếp là tôi đọc các bảng số liệu và biểu đồ. Biểu đồ quan trọng nhất cho thấy quả thật bổ sung CaD giảm nguy cơ ung thư ngay từ năm thứ hai. Nhưng vì con số ca ung thư còn thấp, nên các phân tích thống kê có thể cho ra kết quả thiếu nhất quán. Đọc kĩ hơn nữa trong phần kết quả, tôi phát hiện hai số liệu quan trọng:

(a) khi giới hạn phân tích trong nhóm người tuân thủ theo protocol thì kết quả có ý nghĩa thống kê (P = 0.046), và CaD giảm ung thư khoảng 35%.

(b) Bệnh nhân ung thư có nồng độ vitamin D3 thấp hơn nhóm không bị ung thư.
Cả hai sự thật này rất nhất quán với giả thuyết về ảnh hưởng của CaD đến ung thư.
Tôi không cần đọc phần bàn luận vì một khi tác giả đã kết luận như thế, thì họ sẽ viết bàn luận theo kiểu định hướng. Vả lại, bàn luận là phần mang tính chủ quan, tác giả có quyền suy luận và viết theo ý của họ. Nhưng để trả lời 3 câu hỏi trên, tôi đi đến kết luận:

• Câu hỏi 1: tôi có thể tin vào kết quả của bài báo này? Tin. Đây là nghiên cứu RCT, có giá trị khoa học khá cao. 

• Câu hỏi 2: nếu tin, tôi phải làm gì? Trước mắt thì không làm gì cả. Nhưng rõ ràng tôi có chứng cứ để tin rằng bổ sung CaD là có ích cho người cao tuổi. 

 • Câu hỏi 3: tôi học được gì từ bài báo này? Tôi học cái không nên làm, đó là kết luận chưa nhất quán với kết quả nghiên cứu.

Thế là chúng tôi định viết một bình luận gửi cho JAMA. Bài bình luận là sẽ nói rằng chúng tôi (tôi và Bs Thạch) có một cách diễn giải khác, và hi vọng là tác giả sẽ thích. Cách hiểu của chúng tôi là: bổ sung CaD có thể làm giảm ung thư, nhưng mức độ ảnh hưởng tương đối thấp.

-----

(1) Effect of vitamin D and calcium supplementation on cancer incidence in older women: a randomized clinical trial. JAMA 2017;317:1234-1243.

Ngộ nhận về tính đại diện trong nghiên cứu khoa học


Hầu hết những ai làm nghiên cứu lâm sàng ở Việt Nam đều từng trải qua các hội đồng xét duyện đề tài hay nghiệm thu, và tuyệt đại đa số đều nhận được lời phê bình là nghiên cứu không mang tính đại diện. Những người thốt ra phê bình này thường làm về y tế công cộng, chứ không phải nghiên cứu y học và nghiên cứu lâm sàng. Lời phê bình này hàm ý nói kết quả nghiên cứu không có giá trị khoa học, và có khi nó được dùng như là một cách bác bỏ nỗ lực của nhà nghiên cứu. Nhưng khi được hỏi "tính đại diện" có nghĩa là gì, thì mỗi người giải thích một cách khác nhau, càng làm cho nhà nghiên cứu thiếu kinh nghiệm thêm lúng túng. Trong note này tôi sẽ giải thích tại sao một nghiên cứu y học nghiêm chỉnh không nhất thiết phải có mẫu mang tính đại diện.



Những cách hiểu về khái niệm "đại diện"

         Một trong những nguyên lí cổ điển về nghiên cứu y học được giảng dạy ở Việt Nam là mẫu nghiên cứu phải mang tính đại diện. Nói theo tiếng Anh là representativeness. Theo nguyên lí này, mẫu mang tính đại diện thì kết quả nghiên cứu mới có giá trị khoa học, dù nhiều người không định nghĩa rõ "giá trị khoa học" có nghĩa gì trong thực tế. Nhưng từ suy nghĩ đó, đối với những người đã qua đào tạo hay chịu ảnh hưởng bởi nguyên lí cổ điển đó đòi hỏi nghiên cứu phải mang tính "đại diện" cho quần thể mà mẫu được lấy từ đó. Nhưng khi được hỏi khái niệm "đại diện" có nghĩa là gì, thì hình như mỗi người hiểu một cách khác nhau. Qua thăm dò ý kiến và đọc những phê bình trong các đề cương nghiên cứu khoa học, tôi thấy có 4 cách hiểu về tính đại diện.

1.  Đại diện mang ý nghĩa thống kê

         Một nghiên cứu y học thường lấy mẫu (sample) từ một quần thể (population). Từ một quần thể, chúng ta có thể lấy rất nhiều mẫu khác nhau, và dĩ nhiên mỗi lần lấy mẫu thì mỗi lần chúng ta có kết quả hơi khác. Nếu quần thể gồm 100 người có chiều cao 160 cm và độ lệch chuẩn 6.5 cm, thì nếu chúng ta lấy mẫu ngẫu nhiên 10 người từ quần thể đó thì chiều cao trung bình của 10 người đó có thể dao động trong khoảng 157 đến 162 cm. Ở đây, tính đại diện có nghĩa là phân bố chiều cao của mẫu nghiên cứu giống như phân bố chiều cao của quần thể.

2.  Đại về một đặc điểm lâm sàng

         Đối với nhiều người, cách hiểu về tính đại diện có vẻ đơn giản hơn, và đó là kì vọng rằng mẫu nghiên cứu có những đặc điểm giống như đặc điểm của quần thể. Theo cách hiểu này, nếu quần thể có 51% dân số là phụ nữ, 30% nam giới hút thuốc lá, 15% người có thu nhập cao, 1% người với tuổi 20, v.v. thì mẫu nghiên cũng phải có những đặc điểm tương tự. 

3.  Đại diện về kết quả  

         Một cách hiểu khác là đại diện tính có nghĩa là kết quả, ví dụ như tỉ lệ mắc bệnh, trong mẫu nghiên cứu gần bằng với tỉ lệ của quần thể. Nói cách khác, nếu trong quần thể có 10% người mắc bệnh tiểu đường, thì mẫu nghiên cứu cũng có khoảng 10% người mắc bệnh tiểu đường. Nếu mẫu nghiên cứu có 20% người mắc bệnh thì được xem là không mang tính đại diện.

4.  Đại diện về phân bố địa lí  

         Một cách hiểu khác mà nhiều người khi đề cập đến tính đại diện họ hàm ý nói đến tính địa lí và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Rất nhiều người nghĩ rằng một nghiên cứu y học, đặc biệt là dịch tễ học, phải mang tính đại diện địa lí, có nghĩa là chọn ngẫu nhiên trong cộng đồng. Họ nghĩ rằng để đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu, phải chọn mỗi tỉnh thành, chọn ngẫu nhiên vài quận/huyện, nỗi quận/huyện chọn ngẫu nhiên vài phường/xã, mỗi phường/xã chọn ngẫu nhiên vài ấp, v.v. Nói cách khác, nếu Quận I có dân số chiếm 10% dân số của Thành phố, thì mẫu nghiên cứu cũng nên có khoảng 10% cá nhân đến từ Quận I.

         Nhưng rất tiếc là 4 cách hiểu về đại diện là 4 ngộ nhận về nghiên cứu khoa học. Cách hiểu thứ nhất là một sự hiểu lầm giữa đại diện mang tính thống kê và đại diện mang tính khoa học, và tôi sẽ bàn thêm dưới đây. Một cách ngắn ngọn trong suy luận khoa học, chúng ta không nhất thiết phải cần đến đại diện thống kê.

         Cách hiểu thứ hai và thứ ba là rất phản khoa học, bởi vì để kiểm định một giả thuyết khoa học nhà khoa học không cần chọn đối tượng mang tính đại diện, mà có thể chọn một nhóm đối tượng với những đặc điểm đặc biệt. Chẳng hạn như để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của thiếu vận động đến loãng xương, chúng ta có thể chọn bệnh nhân đột quị và những phi hành gia.

         Cách hiểu thứ tư là một hiểu lầm về điều tra dân số, lấy ý kiến quần chúng và nghiên cứu khoa học. Khi lấy ý kiến trong công chúng, người ta có thể [chỉ "có thể" thôi] cần đến mẫu đại diện, nhưng nghiên cứu khoa học không phải là điều tra xã hội. Ngay cả điều tra xã hội, kết quả là một tỉ lệ (ví dụ như) ủng hộ ứng viên nào đó cũng có thể là ... vô nghĩa. Cần phải nói thêm rằng nếu phải lấy mẫu đại diện địa lí thì có thể nói rằng 100% các nghiên cứu y học đều vô giá trị! Nếu phải đáp ứng đại diện địa lí thì tất cả những nghiên cứu nổi tiếng như Framingham, Rotterdam (Hà Lan), CaMOS (Canada), Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study (của tôi), tất cả các công trình nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên (RCT), v.v. đều không có giá khoa học?! Do đó, những ngộ nhận này tuy đáng tiếc, nhưng lại rất nguy hiểm, vì làm chùn bước rất nhiều người muốn làm nghiên cứu khoa học có ý nghĩa. Những hiểu lầm này có thể xuất phát từ sự ngộ nhận về suy luận thống kê và suy luận khoa học mà tôi giải thích dưới đây.

Suy luận thống kê và suy luận khoa học

         Để hiểu tại sao khái niệm đại diện không cần thiết trong nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải biết mục tiêu thật sự của một nghiên cứu khoa học. Ở đây, tôi không bàn đến những cuộc điều tra xã hội để biết ý kiến của công chúng về một vấn đề nào đó (ví dụ như bầu cử) hay để biết tỉ lệ mắc bệnh trong quần thể, vì đó không phải là nghiên cứu khoa học. Thường, các nghiên cứu khoa học có mục tiêu chính là kiểm định một giả thuyết khoa học. Giả thuyết khoa học thường mang tính tiên lượng, giống như qui luật, trong thế giới tự nhiên. Do đó, mục tiêu chính của khoa học là đi tìm một qui luật của thế giới tự nhiên (law of nature).

         Qui luật này có thể thể hiện qua hiện tượng chúng ta gọi là liên quan (1). Ý tưởng "liên quan" ở đây có thể là mối liên hệ nhân quả (causal relationship) hay mối tương quan thống kê (correlation). Dĩ nhiên, tương quan thống kê chỉ là điều kiện cần, chứ chưa đủ, để nói lên mối liên hệ nhân quả. Chẳng hạn như để kiểm định giả thuyết thiếu vận động thể lực dẫn đến tăng nguy cơ loãng xương, nhà nghiên cứu có thể đặt mục tiêu nghiên cứu là tìm mối liên quan giữa vận động thể lực và loãng xương. Vận động thể lực có thể được đo bằng chỉ số tiêu hao năng lượng (biến liên tục), nhưng cũng có thể so sánh giữa nhóm bất động và nhóm bình thường. Đó là nghiên cứu tìm mối liên quan.

         Khía cạnh quan trọng nhất trong nghiên cứu khoa học là kết quả (qui luật quan sát trong nghiên cứu) phù hợp với thực tế của qui luật tự nhiên. Chẳng hạn như trong nghiên cứu về mối liên quan giữa vận động thể lực và loãng xương, chúng ta có thể thiết kế nghiên cứu bằng cách so sánh mật độ xương của các phi hành gia và người bình thường, và nếu kết quả cho thấy phi hành gia có mật độ xương thấp hơn người bình thường, thì đó là một qui luật, một mối liên quan. Mối liên quan đó đúng hay sai không phải tuỳ thuộc vào tính đại diện của đối tượng nghiên cứu, mà phụ thuộc vào kiến thức sinh học về xương và những nghiên cứu trước đây trong y văn.

         Từ những cân nhắc trên, chúng ta có thể phân biệt khái niệm suy luận thống kê (statistical inference) và suy luận khoa học (scientific inference). Suy luận thống kê dựa trên kết quả phân tích trong một mẫu nghiên cứu để phát biểu về quần thể. Những kết quả này bao gồm các chỉ số kiểm định thống kê (như t-test, Ki bình phương, mô hình hồi qui tuyến tính) kèm theo trị số P và khoảng tin cậy 95%. Suy luận khoa học liên quan đến khái quát hoá mối liên quan quan sát từ nghiên cứu đến thế giới tự nhiên. Suy luận khoa học dựa trên kết quả suy luận thống kê, nhưng đó chỉ là điều kiện cần, chứ chưa đủ, vì ngoài thống kê ra, chúng ta cần có kiến thức chuyên ngành trước khi phát biểu một suy luận khoa học.

Hợp lí nội tại và hợp lí ngoại tại

         Khi nói một nghiên cứu khoa học có giá trị, người ta nghĩ đến hai tính hợp lí: hợp lí nội tại (internal validity) và hợp lí ngoại tại (external validity). Hiểu một cách đơn giản, hợp lí nội tại là đảm bảo "chất lượng" (quality assurance) của nghiên cứu. Trong thực tế, hợp lí nội tại có nghĩa là chọn phương pháp đo lường chính xác và có độ tin cậy cao, là sử dụng phương pháp phân tích tốt và thích hợp, là kiểm soát và giảm thiểu tối đa các yếu tố nhiễu, để kết quả nghiên cứu có tính hợp lí. Chẳng hạn như nghiên cứu về loãng xương mà dùng phương pháp siêu âm thì có nghĩa là tính hợp lí nội tại chưa cao.

         Hợp lí ngoại tại (còn gọi là khái quát hoá) là mức độ mà kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng, hoặc liên quan, hoặc khái quát hoá cho một quần thể lớn hơn hoặc cho những người không tham gia vào công trình nghiên cứu. Khái quát hoá theo cách hiểu này không phải chỉ đơn thuần là dựa vào thống kê (mẫu đại diện) mà quan trọng hơn là còn phải dựa vào kiến thức chuyên ngành và các nghiên cứu trong quá khứ.

         Trong suy luận khoa học, tính hợp lí nội tại đóng vai trò quan trọng nhất, còn hợp lí ngoại tại chỉ là phụ. Nếu một nghiên cứu mà phương pháp đo lường không chuẩn mực thì cũng chẳng có giá trị gì về hợp lí ngoại tại. Chẳng hạn như nghiên cứu về béo phì mà chỉ đơn thuần dựa vào các chỉ số như chiều cao và cân nặng (hay body mass index -- BMI) thì giá trị khoa học và tính hợp lí nội tại không cao (vì phương pháp chuẩn là đo lường tỉ trọng mỡ trong cơ thể). Do đó, xin nhắc lại: nếu một nghiên cứu thiếu tính hợp lí nội tại thì kết quả cũng không có ý nghĩa hợp lí ngoại tại. Đảm bảo tính hợp lí nội tại là rất quan trọng trong bất cứ công trình nghiên cứu y học nào.


Tại sao nghiên cứu y học không cần mang tính đại diện?

         Nghiên cứu khoa học không cần mẫu nghiên cứu phải mang tính đại diện, bởi vì mục tiêu chính là suy luận khoa học. Để đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến một bệnh lí, chúng ta có thể nghiên cứu những thành viên trong gia đình hay những cặp sinh đôi, và cách chọn hoàn toàn không cần phải mang tính đại diện địa lí hay bất cứ chỉ số lâm sàng nào. Để đánh giá hiệu quả của một loại thuốc điều trị bệnh loãng xương, chúng ta có thể thực hiện một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT), và bệnh nhân được tuyển chọn theo hàng chục tiêu chuẩn thu nhận và tiêu chuẩn loại trừ.  Nghiên cứu RCT không cần đến tính đại diện của mẫu nghiên cứu. Ngay cả công trình vĩ đại UKBiobank với mục tiêu tư vấn cho chính sách y tế ở Anh, với gần nửa triệu người tham gia, hoàn toàn không mang tính đại diện. Những nghiên cứu như thế đòi hỏi tính hợp lí nội tại rất cao.

         Cần nói thêm rằng đối với các nghiên cứu khoa học thì các phát hiện phải mang tính tái lập (repeatability). Tính tái lập cực kì quan trọng, vì nó phân biệt giữa khoa học thật và khoa học dỏm. Tái lập không chỉ quần thể này mà còn ở quần thể khác, và thường không tuỳ thuộc vào thời gian. Khi chúng ta phát hiện người hút thuốc lá có nguy cơ tử vong cao, thì mối liên quan này gần như được lặp lại ở bất cứ quần thể lớn nào và ở thời điểm nào cũng thế. Đó chính là tính đại diện. Và, tính đại diện này không phải do chọn đối tượng nghiên cứu mang tính đại diện theo nghĩa xác suất, càng không có gì liên quan đến đại diện địa lí.

         Tính đại diện khoa học hay tái lập, một cách lí tưởng, không tuỳ thuộc vào thời gian và không gian. Trong y học, chúng ta đã thấy mối liên quan giữa cholesterol và bệnh tim mạch xuất phát từ một nghiên cứu không mang tính đại diện địa lí bên Mĩ, nhưng kết quả đó áp dụng cho toàn thế giới. Một nghiên cứu về ảnh hưởng của di truyền đến xương ở Việt Nam cũng được lặp lại ở tất cả các nhóm khác trên thế giới. Nếu giả dụ như mẫu nghiên cứu "đại diện" theo cách hiểu đó thì mối liên quan mà chúng ta quan sát được có lẽ không áp dụng cho bất cứ nhóm nào, nam hay nữ, người giàu hay người nghèo. Cái mối liên quan giữa x y, ví dụ như thể hiện qua tỉ số nguy cơ, đã được trọng số hoá và trung bình hoá từ nhiều nhóm nhỏ, nên nó không thể khái quát hoá cho nhóm nào cả. Sự thật này nói lên một lần nữa, trong nghiên cứu kiểm định giả thuyết khoa học, chúng ta không cần chọn mẫu đại diện.

         Nhưng có trường hợp tính đại diện có thể cần thiết. Trưng cầu dân ý, điều tra xã hội để tìm hiểu qui mô của một bệnh (như tiểu đường) hay thói quen (như hút thuốc lá, uống rượu bia) rất khó có thể xem là nghiên cứu, vì không có giả thuyết đằng sau. Ở đây, chúng ta không nói những điều tra như thế là không quan trọng; thật ra, kết quả của các điều tra đó rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách. Những dạng điều tra xã hội này có thể đòi hỏi phải có mẫu đại diện. Xin nhắc lại: "có thể" mà thôi, chứ không phải đúng.

         Tuy nhiên, nếu mẫu điều tra mang tính đại diện theo nghĩa thứ hai (tức các đặc điểm của mẫu nghiên cứu giống như đặc điểm của quần thể) thì kết quả của một nghiên cứu như thế sẽ không có tính hợp lí ngoại tại. Chẳng hạn như nếu một mẫu điều tra đại diện về cấu trúc độ tuổi trong dân số, và phát hiện tỉ lệ mắc bệnh là 10%, thì con số này không đại diện cho cái gì cả. Tại sao? Tại vì con số 10% là số trung bình của nhiều độ tuổi, và tỉ lệ này khác biệt giữa các độ tuổi. Ở đây, chúng ta thấy cái gọi là tính "đại diện" là rất vô nghĩa!

         Một ảo tưởng (và cũng là sai lầm) khác là cho rằng nếu mẫu nghiên cứu đại diện cho quần thể về vài đặc điểm nào đó thì kết quả hoàn toàn đại diện cho quần thể. Những kết quả điều tra như thế (tỉ lệ mắc bệnh) chỉ giá trị trong vòng một thời gian nhất định, và phụ thuộc vào không gian.  Nói cách khác, nghiên cứu tìm hiểu tỉ lệ của một bệnh trong cộng đồng cũng chỉ có giá trị ngắn hạn ngay cả được thực hiện trong một quần thể cụ thể, và không thể khái quát hoá thậm chí cho quần thể khác. Do đó, tính đại diện ở đây cũng rất ư vô nghĩa.

         Khái niệm đại diện theo tỉ lệ càng vô lí. Theo khái niệm và cách hiểu này, nếu quần thể có 5% người tuổi 70-79 thì mẫu cũng nên có 5% người trong độ tuổi đó. Đây là một hiểu lầm tai hại. Một nghiên cứu nghiêm chỉnh với cỡ mẫu gần bằng nhau cho từng nhóm tuổi có độ nhậy cao hơn nghiên cứu đảm bảo tỉ lệ của mẫu nghiên cứu và quần thể bằng nhau. Thử tưởng tượng, nếu chúng ta có 3 nhóm tuổi 50-59, 60-69, và 70-79, nghiên cứu với cỡ mẫu bằng nhau (ví dụ như 100, 100, 100 cho 3 nhóm tuổi) có độ nhậy cao hơn là theo tỉ lệ (mà kết quả có thể là 100, 60, 40). Do đó, tính đại diện cho mỗi nhóm là rất ư phản tác dụng.

         Nhưng tính đại diện bị hiểu lầm khá nhiều bởi những người thiếu kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học và các nhà dịch tễ học hiểu chưa đến vấn đề. Ở nước ngoài, thỉnh thoảng cũng có những phê bình sai về tính đại diện, vì người phát biểu hiểu sai. Tuy nhiên, họ không dám bài bác kết quả nghiên cứu, có lẽ một phần là do kinh nghiệm thực tế nên họ cũng dè dặt trong phê phán. Nhưng ở Việt Nam thì xuất phát từ ngộ nhận và hiểu sai về khái niệm đại diện nên những phê phán cũng sai và gây tác hại cho không ít nhà nghiên cứu chân chính.

         Khái niệm "đại diện"theo cách hiểu 1-4 như trên đã được bàn luận trong y văn từ hơn 30 năm nay. Mới đây, một số nhà dịch tễ học lừng danh trên thế giới tranh luận trên tập san International Journal of Epidemiology (2-7), và ngoại trừ 1 người phản đối yếu ớt, tất cả các nhà dịch tễ học còn lại đều đồng ý rằng tính đại diện không cần cho nghiên cứu y học nhằm kiểm định một giả thuyết (8) liên quan đến một qui luật tự nhiên. Bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học với giả thuyết khoa học đều chẳng ngạc nhiên về sự đồng ý đó, bởi vì tính đại diện theo cách hiểu 1-4 là không cần thiết và có thể gây tác hại cho sự tiến bộ của y học.


Chú thích:

(1) Cần nói thêm rằng chữ "liên quan" ở đây là tương đương với thuật ngữ "association" trong tiếng Anh. Thuật ngữ association trong nghiên cứu khoa học dùng để chỉ những hiện tượng thống kê học như correlation (tương quan), relationship (liên hệ thường là nhân quả), linkage (trong di truyền học), và khác biệt (difference).  Một mối liên quan có thể là nhân quả hay không nhân quả. Khi tỉ lệ mắc bệnh ở nam và nữ khác nhau, chúng ta cũng có thể nói có "liên quan" giữa giới tính và nguy cơ mắc bệnh. Các chỉ số thống kê như tỉ số odds, tỉ số nguy cơ, tất cả đều phản ảnh mối liên quan. Do đó, liên quan dùng ở đây là một cách nói cấp cao hay "high level language" (chứ không phải chỉ đơn thuần theo nghĩa thống kê).

2.  Rothman KJ, Gallacher JEJ, Hatch E. Why representativeness should be avoided. Int J Epidemiol 2013;42:1012-4.

3.  Elwood M. Commentary: On representativeness. Int J Epidemiol 2013;42:1014-5.

4.  Nohr EA, Olsen J. Commentary: Epidemiologists have debated representativeness for more than 40 years – has the time come to move one? Int J Epidemiol 2013;42:1016-7.

5.  Richiardi L, Pizzi C, Pearce N. Commentary: Representativeness is usually not necessary and should be avoided. Int J Epidemiol 2013;42:1018-22.

6.  Ebrahim S, Smith GD. Commentary: Should we always deliberately be non-representative? Int J Epidemiol 2013;42:1022-6.

7.  Rothman KJ, Gallacher JEJ, Hatch E. Rebuttal: When it comes to scientific inference, sometimes a cigar is just a cigar. Int J Epidemiol 2013;42:1026-8.

8.  Trích dẫn vài bình luận của các chuyên gia:

"Representativeness is time and place specific, and will therefore be a historical concept."

"We apply knowledge of genetics from fruit flies to humans because the biological relationships are generalizable although the individuals studied are not."

"Representativeness is not desirable even if the goal is to study effect-measure modification."






Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.