Suy nghĩ về nghiên cứu y học ở VN: nhu cầu thoát khỏi cái hộp

Dự xong một hội nghị thường niên và có dịp nghe/xem tất cả các báo cáo tôi thấy có nghiên cứu y học ở VN cần phải thoát khỏi những vấn đề "truyền thống" và phương pháp thô sơ. Đó là những vấn đề rất cơ bản trong việc chọn đề tài, thiết kế nghiên cứu, cách phân tích, cách trình bày, thậm chí cách diễn giải. Những vấn đề này hiện diện từ cấp thầy cô, nghiên cứu sinh, đến bác sĩ nội trú.



Vấn đề chọn đề tài nghiên cứu

Có thể nói là tuyệt đại đa số đề tài nghiên cứu không có cái mới. Ngoại trừ 2 nghiên cứu về vi cấu trúc xương và pharmacocoeconomics, tất cả các nghiên cứu còn lại là những vấn đề như vitamin D, body composition, mật độ xương ở các bệnh nhân như tiểu đường, COPD, thận mãn tính đều không có cái mới. Thiếu cái mới trong ý tưởng, cái mới về cách tiếp cận, cái mới trong phân tích, cái mới trong cách trình bày và diễn giải. Dĩ nhiên, chúng ta phải làm những đề tài "me too" để học hành, nhưng nếu ngay cả những đề tài loại này mà vẫn còn quá nhiều thiếu sót thì đó là điều phí thì giờ và công sức của nhiều người, kể cả của người làm. Một số đề tài khác thì mang tính thống kê mô tả hơn là nghiên cứu khoa học. Có vẻ như nhiều bạn chưa phân biệt được sự khác biệt giữa phân tích thống kê và nghiên cứu khoa học.

Vấn đề thiết kế nghiên cứu

Không nói ra thì nhiều bạn cũng đã đoán được là đa số đề tài nghiên cứu đều dựa vào mẫu thuận tiện hơn là có thiết kế có hệ thống. Có rất nhiều nhóm làm nghiên cứu trên đối tượng là bệnh nhân của bệnh viện (giống như lấy mẫu thuận tiện) mà không biết bệnh nhân có đồng thuận. Những tiêu chuẩn nhận vào và loại trừ chưa được xác định theo kiến thức về bệnh lí và sinh học, thành ra có khi kết quả khó diễn giải. Hầu hết các “nghiên cứu thuận tiện” này không có nhóm chứng nên kết quả rất khó hiểu. Đây là một vấn đề phổ biến nhất trong các nghiên cứu y học ở VN vì có lẽ người ta chưa nghĩ đến nhu cầu và ý nghĩa của nhóm chứng. Nếu nghiên cứu cho thấy tỉ lệ loãng xương ở những người mắc bệnh tiểu đường là 40% thì con số đó chỉ là một thống kê, chứ không nói lên gì cả, càng chẳng có ý nghĩa lâm sàng. Có nghiên cứu có nhóm chứng nhưng được chọn tuỳ tiện nên kết quả càng khó hiểu. Nói chung, tôi thấy vấn đề thiết kế nghiên cứu và đo lường là điểm yếu nhất của các nghiên cứu trong hội nghị.

Vấn đề phân tích dữ liệu

Dữ liệu không tốt thì phân tích dữ liệu cũng cho ra kết quả không tốt. Dù vậy, đa số phân tích rất đơn giản và chủ yếu là mô tả. Mô tả tỉ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn, v.v. mà chưa quan tâm đến khoảng tin cậy 95%. Cũng có vài phân tích tương quan, nhưng cách làm chưa đạt và chủ yếu là để cho máy tính làm. Chưa thấy phân tích đa biến. Một “bệnh” rất phổ biến là các em ấy chia nhóm các biến liên tục một cách tuỳ tiện. Ví dụ như độ tuổi thì chia thành nhiều nhóm theo 5 hay 10 tuổi tuỳ hứng. Cân nặng cũng chịu chung “số phận” bị cắt ra thành nhiều mảnh. Nhiều báo cáo mà tác giả trình bày hàng chục bảng số liệu cộng thêm hàng chục biểu đồ, làm cho khán giả mất tập trung và khó theo dõi. Điều đáng nói là các bảng biểu này rất đơn giản, và có thể giảm xuống còn chỉ 3 bảng biểu là đủ. Thế nhưng tác giả cứ mô tả hết biến này đến biến khác theo phân tích đơn biến, nên người xem không biết cái nào là chính và cái nào là phụ. Nói chung, phương pháp phân tích chưa được thiết kế có bài bản và bám sát mục tiêu nghiên cứu.

Vấn đề trình bày kết quả

Phần trình bày kết quả nghiên cứu cũng cần cải tiến, vì quá thô sơ và chủ yếu là thống kê. Như nói trên, các em ấy báo cáo quá nhiều bảng biểu đơn biến mà thiếu tập trung vào điểm chính. Vài nhận xét chung như sau:

• Bảng biểu thiếu tựa đề cho dễ hiểu;
• Con số trình bày quá nhiều số lẻ;
• Biểu đồ quá thô và đơn giản, vi phạm hầu như tất cả qui ước về soạn biểu đồ;
• Chọn màu sắc không thích hợp (như chữ màu đen trên nền màu xanh đậm);
• Chọn font chữ không thích hợp cho khán phòng;
• Cách nói: họ nói với slides thay vì nói với khán giả.

Rất nhiều điểm khác cũng cần cải tiến. Không chỉ cách soạn báo cáo mà còn cách nói. Không phải chỉ mấy em trẻ mà ngay cả các bậc “trưởng lão” cũng cần phải cải tiến cách trình bày báo cáo khoa học.

Vấn đề diễn giải kết quả nghiên cứu

Tôi có cảm giác các báo cáo viên bị ám ảnh quá nhiều về số liệu thống kê và làm lu mờ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa lâm sàng của nghiên cứu. Hầu hết các báo cáo viên chỉ nói về kết quả thống kê, như hệ số tương quan, trị số P, kiểm định Ki bình phương, vv mà không nói Ý NGHĨA của các kết quả này. Có báo cáo tôi không thấy effect size ở đâu mà chỉ thấy P<0 .05="" p="" v="">0.05 chi chít rất nhức mắt. Các bạn ấy chưa đặt kết quả phân tích thống kê trong bối cảnh lâm sàng. Tuyệt đại đa số báo cáo chỉ dừng ở “có ý nghĩa thống kê” mà không nói nó có ý nghĩa gì trong lâm sàng. Các bạn ấy chưa tự hỏi kết quả nghiên cứu của mình có phải do bias, confounder hay ngẫu nhiên.

Do đó có nhiều hiểu lầm và lạc quan thái quá. Chẳng hạn như có nghiên cứu cho thấy một công cụ screening có độ nhậy là 90% và độ đặc hiệu là 40%, em ấy kết luận rằng công cụ này có thể ứng dụng trong lâm sàng. Nhưng em ấy không thấy rằng kết quả đó cũng cho thấy dương tính giả là 60%, và như thế thì chưa dùng trong lâm sàng được. Đó chỉ là một ca tiêu biểu, chứ trong thực tế thì nhiều ca lắm.

Nói tóm lại, chỉ qua một hội nghị loãng xương mà tôi có thể nhận dạng ra nhiều vấn đề. Những vấn đề nêu trên thật ra không chỉ hiện diện trong chuyên ngành xương, mà còn ở các chuyên ngành khác mà tôi có dịp tiếp xúc. Dù sao đi nữa thì chuyên ngành xương cũng chỉ là một “bộ lạc” nhỏ trong cái bộ lạc khoa học rộng lớn hơn, nên những vấn đề nêu trên cũng phản ảnh một phần bức tranh lớn của khoa học VN. Nêu ra vấn đề không phải để chê trách (hoàn toàn không) mà để biết được những khía cạnh chúng ta phải cải tiến để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học.

Năng lực NCKH của ta không đến nỗi tệ nếu như các đồng nghiệp được huấn luyện có bài bản. Vấn đề là các bậc “trưởng lão” cần phải được huấn luyện lại, họ cần phải học về phương pháp nghiên cứu khoa học, chứ không nên giả định rằng mình đã là giáo sư hay phó giáo sư rồi nên đã biết hết rồi, không cần học nữa.

Có giáo sư có thể do mặc cảm nên không bao giờ theo học các lớp học về NCKH và thế là họ làm khổ đàn em. Điều này đúng vì có những em bác sĩ nội trú rất thông minh và chịu khó học hỏi, nhưng vì phụ thuộc vào đề tài của thầy cô nên họ cũng phải chịu chung số phận “low quality”. Có em thậm chí nói riêng với tôi rằng em biết đề tài của em chẳng có giá trị khoa học gì, nhưng vẫn phải làm theo ý của thầy cô! Có em đã có dịp so sánh các bài báo cáo trong hội nghị và quyết chí xin học bổng để đi học ở nước ngoài.

Tôi nghĩ nghiên cứu y học nếu muốn hội nhập quốc tế thì cần phải “thoát li” khỏi cách làm hiện nay. Thoát li khỏi những đề tài tủn mủn, ý tưởng quá cũ. Thoát li khỏi các mô hình “nghiên cứu thuận tiện.” Thoát li khỏi những ràng buộc của giáo điều thống kê và dịch tễ học cơ bản. Thoát khỏi cách diễn giải một chiều và chủ quan. Chỉ thoát li khỏi các vấn đề trên thì y học VN mới có cơ may đóng góp có ý nghĩa vào y văn thế giới.

Nghe Khánh Ly ca ở Đà Nẵng (show nhạc "55 năm hát tình ca")

“Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Đó là một trong những lời ca trong chương trình ca nhạc “55 hát tình ca” của Khánh Ly tại Đà Nẵng. Khánh Ly cho biết đây là show nhạc sau cùng chị trình diễn ở Việt Nam, vì chị đã ở cái tuổi ‘thất thập cổ lai hi’ nên có thể không về VN trình diễn nữa. Kể ra thì tôi may mắn vì có cơ duyên nghe chị hát lần cuối trên quê hương.


Chương trình theo vé là bắt đầu vào lúc 8 pm, nhưng phải 15 phút sau thì mới bắt đầu. Khách ngồi gần như đầy khán phòng rạp hát Trưng Vương ở Đà Nẵng. Nhiều khách thưởng lãm là người có tuổi (như tôi), nhưng cũng có hơn 1/3 (tôi đoán) là những người trẻ tuổi. Thế mới biết “nhạc vàng” vẫn có sức hút mạnh ngay cả trong giới trẻ ở thế kỉ 21.


Vào chương trình Khánh Ly chầm chậm bước ra sân khấu (có lẽ do vấn đề khớp). Nhưng chị giữ cái composure rất tuyệt vời trước khán giả. Chị nói tự sự về sự nghiệp ca hát của chị. Tính đến nay, Khánh Ly đã ca hát 55 năm, và đó là chủ đề của show nhạc. Trong nền nhạc nhẹ và ảnh minh hoạ, Khánh Ly mặc áo dài màu vàng kể lại lần đầu chị xuất hiện trên sân khấu là lúc 9 tuổi trong một cuộc thi ca nhạc (nhưng không được ba mẹ cho phép), và thế là bị ba mẹ phạt nặng. Sau đó là cơ duyên gặp Trịnh Công Sơn (mà ai yêu nhạc cũng đều biết) và mở đầu cho sự nghiệp nghệ thuật sáng chói của chị.

Sau đó, chị “chiếm lĩnh” sân khấu suốt 3 giờ đồng hồ. Tôi thán phục cho khả năng thuyết phục khán giả của chị và sức khoẻ ở tuổi 72. Nhiều người nghĩ ở độ tuổi đó thì chắc chị “còn ca hát gì nữa”! Thật là sai lầm, và thật là tội nghiệp cho sự hiểu lầm kiểu assumed như thế. Ở tuổi 72 mà giọng hát của Khánh Ly vẫn như ở tuổi 20. Không sai một lời nhạc. Chẳng cần tờ giấy trên tay. Chẳng vấp một nốt nhạc.

Trước khi trình bày một bài ca, Khánh Ly tự giới thiệu và dẫn chuyện qua những câu chuyện, những cảm xúc, những kỉ niệm, nhưng suy tư về nhân tình thế thái. Khánh Ly không dùng sáo ngữ, nhưng một ca sĩ trong nước thì nói những câu cảm tính và sáo ngữ làm tôi nổi da gà. Sợ nhất cái “bệnh” sáo ngữ mà ý nghĩa thì chẳng dính dáng đến bài ca. Có sự tham gia diễn của ca sĩ Quang Thành, Kim Anh hát những bài của Lam Phương và Hoàng Thi Thơ rất sống động và hay.

Khánh Ly trình diễn những ca khúc của nhiều nhạc sĩ chứ không phải chỉ của Trịnh Công Sơn. Những ca khúc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thuỵ Miên, Anh Bằng, Nguyễn Đình Toàn, v.v. Riêng các ca khúc của Trịnh Công Sơn chiếm gần phân nửa chương trình. Đó là những ca khúc quen thuộc như Diễm xưa, Ngày trở về, Bến xuân, Ru ta ngậm ngùi, Hạ trắng, Người già em bé, Bà mẹ Ô Lý, Giọt nước mắt cho quê hương, Ca dao của mẹ, Xin cho tôi, Chờ nhìn quê hương sáng chói. Những ai biết nhạc trước 1975 có lẽ nhận ra “hơi hám” của “Ca khúc Da Vàng” trong vài ca khúc trên, và đó là sự tiến bộ của Đà Nẵng, nơi chị ấy nói là “thành phố tử tế”. Tôi thấy bài nào chị ấy hát cũng hay và hát hết mình. Chị không làm phụ lòng khán giả dù chỉ một phút. Nếu có phê bình tôi chỉ hơi tiếc một điều là ban nhạc chơi chưa đạt. Có lúc tiếng đàn và trống lấn át tiếng ca.

Chẳng hiểu sao trong một phút giây thăng hoa nào đó, cái câu “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” cứ ám ảnh tôi. Tôi như người được đi một chuyến xe về miền quá khứ, nơi mà những ước vọng vang lên gần như mỗi ngày:

Xin cho mây che đủ phận người
Xin cho tôi một sáng trời vui
Xin cho tôi đến tận nụ cười

Hay như những chờ đợi:

Chờ mai này ta dậy trong tiếng hò reo
Chờ cho lòng căm thù đến lúc chìm sâu
Chờ hòa bình đến, chờ tiếng bom im
Chờ bước đi trên những con đường không chông mìn
Chờ đường giao thông chấp nối chuyến xe qua ba miền

Mà, cho đến nay, chúng ta vẫn còn chờ.

Mỗi ca khúc đều được minh hoạ bằng những thước phim ngắn làm nền trên mành ảnh. Điều thú vị là hình ảnh và phim làm nền cho sân khấu có cả trực thăng và xe jeep thời chiến tranh, những thước phim tản cư trong “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Hay nhất là hình nền có cả ca khúc “Ai trở về xứ Việt” gây cho tôi nhiều cảm xúc (nhưng tôi nghĩ đa số khán giả không biết hay không chú ý đến ca khúc này.)

Nói chung, chương trình ca nhạc “55 hát tình ca” của Khánh Ly tại Đà Nẵng là rất ấm cúng. Qua 180 phút, Khánh Ly đã thôi miên và đưa tôi và khán giả về miền kí ức với những ca khúc đầy ấp kỉ niệm và cảm xúc. Thành ra, khi nghe Khánh Ly nói đây là show nhạc giã từ sân khấu của chị, nhiều người thấy luyến tiếc, bồi hồi. Nghĩ đến ngày chúng ta sẽ không thấy Khánh Ly trên sân khấu, thì quả là một khoảng trống nghệ thuật rất lớn. Việt Nam sẽ không có một Khánh Ly thứ hai — dĩ nhiên. Âm nhạc Việt Nam sẽ vắng tiếng hát liêu trai đầy truyền cảm. Người mộ điệu sẽ không còn nghe nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát thôi miên của Khánh Ly. Nhưng Khánh Ly sẽ sống mãi trong lòng người mộ điệu nhạc Việt như là một huyền thoại.






Một thoáng Quảng Nam

Hôm nay (Chủ Nhật 1/10), nhân một ngày nghỉ, tôi và vài bạn đi Quảng Nam. Trước hết là ghé qua mộ ông Nguyễn Bá Thanh, kế đến là tượng “Mẹ Việt Nam anh hùng” (mà báo chí từng đề cập nhiều lần), và quan trọng nhất là viếng thăm nhà lưu niệm chí sĩ Phan Châu Trinh.


Khu mộ ông Nguyễn Bá Thanh thật ra là nằm bên cạnh một nghĩa địa xã. Nhưng vì sự hoành tráng và tính trang trọng nên khu mộ ông trông rất nổi bật. Khu mộ có nhà lưu niệm với những hình ảnh và hiện vật trong quá trình trưởng thành và chấp chính của ông Thanh. Có cả tấm bia ghi những câu phát biểu nổi tiếng làm nên tên tuổi Nguyễn Bá Thanh. Nhưng cách chọn màu vàng trên nền đá thì phải nói là quá tệ, vì rất khó đọc. Chẳng biết ai chọn kiểu thiết kế này, nhưng rõ ràng đó là một lựa chọn kém thông minh.



Dĩ nhiên, ông Thanh là một nhân vật “controversial”, nhiều người mến mộ, nhưng cũng có những người chỉ trích. Nhưng có thể nói mà không sợ sai rằng đa số dân Đà Nẵng, từ trí thức đến lao động, đều ghi nhận rằng ông Thanh có công hoán chuyển Đà Nẵng từ một đô thị bình thường thành một thành phố hiện đại như ngày nay. Nghe những câu chuyện của những người từng tiếp xúc ông mới thấy ông là một nhà lãnh đạo có viễn kiến tốt và muốn làm những điều có phúc lợi cho dân chúng thật sự. Nói theo ngôn ngữ ngày nay ông là một “mover and shaker” hay một “game changer”. Nhưng cũng có thể nói rằng ông là một “benevolent dictator” của Việt Nam.

Quảng Nam là nơi “ác liệt” trong thời chiến. Tỉnh này có nhiều “bà mẹ anh hùng” nhất nước. Mỗi “bà mẹ anh hùng” thường có ít nhất 4 người con hay chồng bị chết trong thời chiến. Có lẽ tiêu biểu là bà Nguyễn Thị Thứ; bà có 12 người trong gia đình (9 con trai, 2 cháu ngoại, và con rể) bị chết trong thời chiến. Dĩ nhiên, đó chỉ mới một bên, chưa tính bên VNCH mà con số bà mẹ có con chết chắc cũng nhiều. Thành ra, cái danh hiệu “anh hùng” ở đây được tính trên xác người, chứ không phải chuyện tầm thường. Khu tượng đài được xây (nghe nói với cái giá 400 tỉ đồng, tức gần 20 triệu USD) là để vinh danh (?) mẹ Thứ, nhưng nếu là tượng đài có ý nghĩa hơn thì nên khắc tên tất cả bà mẹ có con chết trong thời chiến.

Quần thể tượng đài mẹ Thứ lớn hơn khu mộ ông NBT nhưng không có để lại ấn tượng gì đặc biệt. Toàn bộ khu tượng đài là một quảng trường nhỏ, gồm bãi đậu xe, những cây cột tượng, và tượng đài. Những cây cột tượng có vẻ làm lu mờ bức tượng chính. Mô típ thiết kế không mang dấu ấn dân tộc, mà đậm chất Liên Xô cũ, với những khối xi măng và khối đá thật lớn, màu u ám, trông đe doạ hơn là thân thiện. Toàn bộ khu tượng đài không có bóng cây lớn, chẳng có băng ghế ngồi, nên rất nóng trong cái nắng cháy da ở miền Trung. Không biết ngày thường thì lượng du khách ra sao, nhưng lúc chúng tôi đến thì không có ai cả, bãi đậu xe trống trơn. Tượng đài hình như đang được trùng tu, nhưng người ta ghi dòng chữ rất mất văn hoá:

“Vệ sinh tượng khắc phục cơn bão số 10”!





Khu lưu niệm cụ Phan Châu Trinh thì rất khiêm tốn so với tượng đài “mẹ VN anh hùng”. Đường vào nhà lưu niệm cụ PCT là đường ngoằn ngoèo, rất tiêu biểu đường làng ở miền Trung. Phải nhờ Google mới tìm được đường chính xác, vì hỏi cư dân ở đây chẳng ai biết ông Phan Châu Trinh là ai, càng chẳng ai biết nhà lưu niệm Phan Châu Trinh ở đâu, dù họ sống cách đó chỉ 3-5 cây số! Tình trạng này cũng giống như các danh nhân văn hoá khác bị lu mờ bởi cuộc sống xô bồ và quên lịch sử ngay trên chính quê hương mình. Họ sống ở đó nhưng không hề biết một nhân vật văn hoá kiệt xuất của quê họ.

Nhà lưu niệm cụ Phan là một căn nhà nhỏ, khiêm tốn nằm đằng sau và bị bao bọc bởi những nhà dân cư ọp ẹp chung quanh. Cư dân nói chung là nghèo, nên toàn cảnh quan trông rất thảm thương. Đường vào nhà lưu niệm được lót đá lớn, và có một cái poster dài in chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của ông. Ít ai đến đây, nên cổng nhà thường được khoá kín, và ống khoá thì đã rỉ sét. Khi tôi tới nơi, phải nhờ một ông cụ đến mở cổng để vào trong tham quan và thắp nhang. Phía trong nhà lưu niệm là vài dòng hết sức ngắn về tiểu sử (cố nhiên không nói gì về mối liên hệ giữa cụ Phan và ông Hồ) cùng những hình ảnh về hoạt động của ông lúc sinh tiền. Nói chung, nhà lưu niệm cụ Phan rất sơ sài, hình ảnh thì kém phẩm chất, rời rạc, không nói lên được cái viễn kiến tuyệt vời và chủ trương của ông trong đấu tranh chống Pháp.


.





Trên đường về Đà Nẵng định ghé qua nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhưng trời chiều xuống nhanh quá nên tôi đành hẹn dịp sau. Tuy nhiên, anh bạn tôi ghé thăm một bệnh nhân (ở gần nhà lưu niệm cụ Phan), và thế là bị bệnh nhân “bắt cóc” nhậu. Món gà ta và thịt heo nướng thiệt là ngon. Buổi chiều đồng quê, gió hiu hiu, ngồi nhâm nhi lon bia và dĩa thịt gà thì chỉ có thể nói là “thần tiên”. Người xứ Quảng vùng quê hết sức thân thiện, quí khách, nhưng họ có một giọng và cách nói rất khó nghe. Tôi phải chú ý và vận dụng vốn liếng từ vựng xứ Nẫu để hiểu họ nói gì, nhưng thỉnh thoảng vẫn hiểu sai. Chẳng hạn như họ có thói quen phát âm chữ “gà” thành “goà”, nên nghe nói “làm con goà” tôi phải định tâm một vài giây để hiểu làm gì.

Nói tóm lại, tôi đã có một ngày nghỉ cuối tuần đầy ý nghĩa ở quê hương ông thủ tướng. Có dịp đi đây đó mới thấy đồng quê miền Trung vẫn còn nghèo lắm, đất đai cằn cỗi và nhỏ bé, nhà cửa nhỏ xíu. Dĩ nhiên, cũng có những căn nhà thật lớn (chắc là của các quan), nhưng con số đó chẳng bao nhiêu. Nhưng có cái hay là trường học ở đây đều to lớn và có vẻ nề nếp. Một điều nữa là nhìn những khuôn mặt của các em bé ở đây, trai cũng như gái dù là trong làng quê heo hút, nhưng em nào cũng toát lên ánh mắt sáng ngời và thông minh. Có lẽ vì thế mà vùng đất này đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất Việt.

Dịch vụ SEO

Dịch vụ Thiết kế websiteDịch vụ seo CIP giúp cho thương hiệu của bạn tiếp cận thị trường online.